Tư liệu

Hoàng đế chung thuỷ nhất lịch sử: chỉ một hoàng hậu, không nạp phi tần

Khi nghĩ đến các hoàng đế thời xưa, chúng ta thường liên tưởng tới “tam cung, lục viện” với hàng ngàn cung tần mỹ nữ. Thế nhưng, ít ai biết rằng có một vị hoàng đế Trung Hoa suốt một đời chung thuỷ với một hoàng hậu, hoàn toàn không nạp thêm phi tần. Vị hoàng đế ấy cũng là một người con chí hiếu.

Minh Hiếu Tông (1470 – 1505), tên thật là Chu Hựu Đường, là vị hoàng đế thứ 10 của nhà Minh và là con trai thứ 3 của Minh Hiến Tông Chu Kiến Thâm và người mẹ xuất thân hàn vi họ Kỷ. Thời kỳ ông trị vì được các sử gia ghi nhận là “Hoằng Trị trung hưng”, với rất nhiều công lao cải cách kinh tế – chính trị, trừ bỏ bè lũ quan lại bất tài và hoạn quan lộng quyền thời trước, khiến cho triều chính thông suốt, lòng người hòa hợp.

Hoàng đế chung thuỷ bậc nhất cổ kim

Dù là thân cửu ngũ chí tôn nhưng Minh Hiếu Tông lại chỉ có duy nhất một người vợ là Hiếu Thành Kính hoàng hậu Trương thị. Trương hoàng hậu trở thành vợ của Minh Hiếu Tông từ năm 1487, khi ông vẫn đang là hoàng thái tử. Sau khi lên ngôi, Minh Hiếu Tông cũng không lập thêm thê thiếp nào mà chỉ chung tình với hoàng hậu, mặc kệ cho quan lại dâng tấu khẩn cầu như thế nào đi chăng nữa.

Minh Hiếu Tông và hoàng hậu của ông duy trì những thói quen sinh hoạt hàng ngày như những cặp vợ chồng bình thường. Theo sử sách ghi lại, có một lần Trương hoàng hậu bị sưng miệng, Hiếu Tông đã tự tay bưng nước, truyền thuốc cho bà. Thậm chí, ông còn không dám ho vì sợ làm phiền bà nghỉ ngơi. Điều này đối với một người đàn ông bình thường đã là đáng quý, huống hồ là bậc đế vương.

Không chỉ vậy, Minh Hiếu Tông còn dành đãi ngộ đặc biệt cho gia đình Trương hoàng hậu. Khi lập hậu được 4 năm, phụ thân Trương hoàng hậu là Trương Loan được phong bá, khi chết đi được truy phong là Xương Quốc công. Hai em trai của hoàng hậu là Trương Hạc Linh được phong là Thọ Ninh hầu và Trương Diên Linh phong Xương hầu.

Minh Hiếu Tông. (Ảnh: wikipedia.org)

Tuổi thơ cơ cực

Có người cho rằng sở dĩ Minh Hiếu Tông suốt đời chỉ chung thuỷ với hoàng hậu là vì tuổi thơ ông đã chứng kiến những hiểm độc và nếm trải đủ đắng cay chốn hậu cung của cha mình là Minh Hiến Tông.

Mẹ đẻ của ông là Kỷ thục phi, con gái một viên quan tộc người thiểu số vùng đất Quảng Tây xa xôi. Theo Minh sử, bấy giờ Vạn quý phi là người được vua Minh Hiến Tông sủng ái nhất. Vạn quý phi sinh hạ được một hoàng tử, nhưng chẳng may bị chết yểu, từ đó bà không thể mang thai thêm lần nữa. Lo sợ người khác có thể cướp mất vị trí của mình, Vạn Quý phi lập dã tâm không để cho bất cứ phi tần nào được sinh con. Bà giết tất cả những đứa trẻ là con của hoàng đế với các phi tần khác. Chỉ cần phát hiện phi tần nào mang thai, bà lập tức bỏ thuốc độc, ép phá thai, thậm chí còn giết chết người đó, thủ đoạn vô cùng thâm độc (2).

Khi biết Kỷ thị có mang, Vạn quý phi bèn sai một cung nữ đem thuốc phá thai tới bắt uống. May mắn thay, cung nữ này động lòng trắc ẩn đã không thực hiện mệnh lệnh, mà trở về nói dối rằng Kỷ thị không có thai mà bị mắc bệnh báng bụng. Vạn quý phi tin cho là thật, lệnh đuổi Kỷ thị ra sống ở An Lạc đường, một lãnh cung cực kỳ hẻo lánh. Năm Thành Hóa thứ sáu (1470), Chu Hựu Đường được Kỷ thị bí mật sinh ra. Nhờ thái giám đùm bọc che giấu, nên Vạn quý phi, hoàng đế Hiến Tông cùng hầu hết các quan đại thần không hề hay biết tới sự hiện diện của vị hoàng tử này.

Năm năm sau, Hiến Tông đã ba mươi tuổi, tâm trạng u uất bởi những đau đớn của hai lần chết con, đã thốt lên: “Trời! Trên đầu trẫm tóc đã bạc rồi, nhưng vẫn chưa có người con nào, thật đáng buồn!” Thái giám Trương Mẫn thấy thời cơ đã tới, bèn quỳ xuống tâu: “Vạn tuế gia đã có hoàng tử rồi, hiện hoàng tử đang ở Tây Nội”. Nhờ đó, cả triều đình mới biết một sự thực vô cùng đáng mừng vẫn được giữ kín bấy lâu. Hoàng đế cử Hoài Ân đến Nội các tuyên chiếu, bố cáo cho thiên hạ rõ. Hiến Tông đích thân đặt tên cho hoàng tử là Hựu Đường, phong Kỷ thị làm thục phi, đón vào cung Vĩnh Thọ.

Không lâu sau, Kỷ thục phi và thái giám Trương Mẫn bị Vạn quý phi ngầm sai người sát hại, khiến trong cung triều Minh lại thêm một nghi án. Hiếu Túc Chu thái hậu (mẹ đẻ của Hiến Tông) lo lắng hoàng tôn bị hãm hại, bèn đón Hựu Đường vào cung Nhân Thọ cùng ở với mình, nhờ vậy hoàng tử được bảo hộ nghiêm mật.

Người con hiếu thuận

Năm 1487, Hiến Tông băng hà, hoàng thái tử Chu Hựu Đường kế thừa ngôi đại thống, đổi niên hiệu là Hoằng Trị.

Mặc dù khi lên ngôi đã không còn cha mẹ, nhưng Hựu Đường vẫn nổi tiếng là ông vua chí hiếu. Ông không bao giờ sao nhãng việc vấn an, trực hầu và xin nghe lời chỉ dạy của thái hoàng thái hậu (mẹ của vua Hiến Tông – bà nội).

Đặc biệt, đối với người mẹ Kỷ thị của Hiếu Tông, tình thân quả thực khác thường. Từ thuở chào đời mãi đến khi sáu tuổi, ông chung sống với mẹ trong cảnh lén lút ở An Lạc đường lạnh lẽo âm u, Kỷ thị đã nuốt mọi niềm cay đắng vào trong lòng để nuôi con. Vừa mới thoát khỏi cuộc sống đen tối, còn chưa kịp để cho người con báo đáp công ơn dưỡng dục, thì Kỷ thị đã đột ngột qua đời. Sau khi Hựu Đường lên ngôi, ông đã truy tôn Kỷ thị làm hoàng thái hậu, đem di thể bà dời tới chôn ở Mậu Lăng, nơi an táng Hiến Tông.

Nghi án về cái chết của Kỷ thị, các đại thần đều dâng tấu xin được điều tra tìm đến tận cùng nguồn gốc. Nhiều người đề xuất cần phải làm sáng tỏ tội ác của Vạn quý phi, tước đoạt thụy hiệu của bà. Thế nhưng, Hựu Đường cho rằng nếu tiếp tục truy xét sẽ liên quan tới cha mình là Hiến Tông, điều này không hợp với đạo lý “Tử vi phụ ẩn” (con giấu tội cho cha) (1). Hựu Đường đã biểu hiện thái độ khoan dung nhân hậu, truyền chỉ không cho phép nhắc tới chuyện đó nữa, vì vậy đã được trăm họ ngợi ca. Cách thể hiện chữ hiếu của Hựu Đường khác hẳn với thói thường thế nhân, không tiêu diệt bè đảng của Vạn quý phi để trả thù cho thân mẫu. Hựu Đường đã chọn cách lấy ân báo oán, lấy từ bi hoá giải hận thù để xây dựng đạo hiếu, vì vậy đạo hiếu của ông mang tính nhân văn cao cả.

Tình cảm nhớ thương vô tận đối với mẹ hiền Kỷ thị, Hiếu Tông đi tìm thân thuộc đưa về kinh sư để báo đáp. Dù vấp phải nhiều trắc trở nhưng Hựu Đường vẫn không nản chí, lần lượt cử các quan viên tới Quảng Tây để truy tìm tông tích. Về sau, Hựu Đường lập miếu vũ tôn thờ ngoại tộc ở phủ Quế Lâm (Quảng Tây), truy phong cho cha của Kỷ thái hậu là Thôi Thành Tuyên Lực Vũ Thần Đặc Tiến Quang Lộc đại phu Trụ Quốc Khánh Nguyên Bá, thụy hiệu là Đoan Hi, truy phong mẹ của Kỷ thái hậu là Bá phu nhân.

(Ảnh minh họa: xuehua.tw)

Vị quân chủ anh minh

Khi mới lên ngôi, Minh Hiếu Tông phải đối mặt với tình thế nghiêm trọng, mâu thuẫn giữa bè đảng của Vạn quý phi và phe thái giám ngày càng trở nên sâu sắc, triều Minh lâm vào cảnh hỗn loạn. Hiếu Tông đã ra sức chỉnh đốn chế độ, chấn hưng vương triều. Ông đã cách chức rất nhiều kẻ gian tà, đồng thời ra sức tuyển chọn bổ nhiệm người hiền tài, thực thi chính sách nghiêm khắc kiểm tra phẩm chất quan lại… làm cho triều chính ngày càng vững vàng, thịnh trị.

Không chỉ nghiêm khắc trong việc chấp pháp, Hiếu Tông cũng nổi danh là một ông vua có đức khoan dung nhân từ. Ông chỉ dụ cho quần thần: “Từ nay trong khi hỏi tội, cần thiết phải giữ lòng khoan thứ nhân hậu, chấp pháp cần phải công bằng, cân nhắc từng lời nói, quan sát sắc mặt, thẩm vấn tình tiết kỹ càng” (Minh Hiếu Tông thực lục). Ông luôn sử dụng chính sách vỗ yên nhân dân, thường xuyên xuất lương thực cứu giúp những vùng bị thiên tai, hỗ trợ người nghèo, miễn giảm thuế dịch…

Sử sách Trung Quốc gọi Chu Hựu Đường là “Trung Hưng lệnh chủ”, đánh giá là ông vua triều Minh đáng ca ngợi kế tiếp sau Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Sau khi Chu Hựu Đường băng hà, căn cứ vào đức độ lúc bình sinh của ông mà hoàng tử Chu Hậu Chiếu kế ngôi đã suy tôn miếu hiệu của ông là Hiếu Tông Hoàng Đế.

Bách thiện hiếu vi tiên

Chung thuỷ và hiếu thuận là hai phẩm chất tưởng chừng tách biệt, nhưng thực ra lại rất có liên quan, cuộc đời Minh Hiếu Tông đã tỏ rõ cho người đời sau điều ấy. Phải chăng vì hiếu thuận với mẹ, nên Hiếu Tông thấu hiểu và cảm thông với những đau khổ của người phụ nữ chốn hậu cung, và ông quyết tâm không để vợ của mình phải chịu tổn thương như vậy?

Người xưa nói: “Bách thiện hiếu vi tiên” (Trong trăm điều thiện thì hiếu đứng đầu) quả là có đạo lý. Lòng hiếu thuận của một người có thể bồi dưỡng thêm, mở rộng thêm trở thành lòng kính trọng, nhân từ đối với tất cả mọi người trong thiên hạ. Một ông vua có lòng hiếu thuận thì cũng dễ dàng bao dung, nhân từ với thê tử của mình, khoan hậu đối với thần dân của mình.

Vậy nên những người phụ nữ muốn chọn cho mình ý trung nhân trọn đời chung thuỷ, phải chăng cũng cần xét xem họ có hiếu thuận với cha mẹ hay không? Với cha mẹ còn không hiếu thuận, thì mong gì đến yêu thương người nào khác nữa!

Khiêm Từ

 

 

 

 

Nguồn gốc câu thành ngữ ‘Nhất ngôn cửu đỉnh’: 3 tấc lưỡi đẩy lui trăm vạn hùng binh

Mọi người đều biết câu thành ngữ: “nhất ngôn cửu đỉnh”, ý nghĩa là lời nói rất có trọng lượng. Vậy vì sao lại ví với “cửu đỉnh”, và “nhất ngôn cửu đỉnh” có nguồn gốc như thế nào?

Mao Toại tự tiến cử bản thân, “nhất ngôn cửu đỉnh” ra đời từ đó

Trong thời kỳ Chiến Quốc, nước Tần tấn công nước Triệu ở Hàm Đan (kinh đô nước Triệu). Bình Nguyên Quân của nước Triệu đến nước Sở cầu viện, muốn liên kết với nước Sở để chống lại nước Tần. Bình Nguyên Quân muốn tuyển 20 môn khách cùng đến nước Sở để thuyết phục, nhưng tìm tới tìm lui chỉ tìm được 19 người, còn thiếu một người thì phải làm thế nào đây? Lúc ấy, có một người tên là Mao Toại tự tiến cử mình, Bình Nguyên Quân bèn thu nạp anh ta.

Đến nước Sở, Bình Nguyên Quân vẫn không có cách nào thuyết phục Sở Vương viện trợ nước Triệu. Cuối cùng Mao Toại cầm kiếm đi về phía trước, hướng đến Sở Vương phân tích tình thế với một phong thái chính nghĩa, lời nói trang nghiêm, khí thế hùng hồn; Sở Vương bèn đáp ứng việc thiết lập giao ước đồng minh với nước Triệu.

Bình Nguyên Quân sau khi trở về nước Triệu, nghĩ đến việc đã dùng cả một ngày mà không thể thuyết phục được Sở Vương, vậy mà Mao Toại chỉ với mấy câu mà khiến cho Sở Vương không nói được lời nào, mới tán thưởng Mao Toại rằng: “Mao tiên sinh đến Sở; mà khiến nước Triệu được tôn trọng nặng như cửu đỉnh, như chuông Đại Lữ. Mao tiên sinh dùng ba tấc lưỡi còn mạnh hơn cả trăm vạn hùng binh”.

Thành ngữ: “Nhất ngôn cửu đỉnh” chính là từ điển cố đó mà ra vậy.

Vì sao gọi là ‘cửu đỉnh’?

‘Đỉnh’ là vật dụng dùng để cúng tế Thần minh và tổ tiên (có dạng như chậu), cũng có thể là vật dụng để đựng thức ăn. Sau khi Đại Vũ trị thuỷ thành công, kiến lập nên vương triều nhà Hạ, đã chia thiên hạ thành chín châu (cửu châu) là: Kí, Duyện, Thanh, Kinh, Dương, Lương, Ung, Từ, Dự. Thêm vào đó, ông lệnh cho thuộc hạ thu thập đồng xanh (kim loại đồng) ở các châu, đúc thành chín đỉnh. Trên mỗi đỉnh có sông núi, con người, sản vật… của các châu được khắc lên đó. Cửu đỉnh đại biểu cho cửu châu, cũng chính là đại biểu cho thiên hạ.

Đại Vũ xem cửu đỉnh là bảo khí trấn quốc, là biểu tượng của vương quyền thiên tử. Nhưng bảo đỉnh trấn quốc này sau khi kinh qua ba triều đại là Hạ, Thương, Chu; trong thời kỳ nhà Tần diệt nhà Chu, có một bảo đỉnh đã lạc mất ở sông Tứ Thủy (nay thuộc Tế Ninh, Sơn Đông), tám cái còn lại lưu lạc ở đâu thì không rõ. Tần Thủy Hoàng và Hán Văn Đế đều từng nghĩ cách vớt bảo đỉnh từ Tứ Thủy, nhưng đều mất công vô ích. Cửu đỉnh chính là tiêu mất một cách thần bí như vậy.

(Ảnh minh họa: aboluowang)

Nhà Tần phát binh đến nhà Chu đoạt cửu đỉnh

Vào cuối triều đại nhà Chu, nước Tần phát binh hướng về Đông Chu, muốn đoạt cửu đỉnh của nhà Chu. Thiên tử nhà Chu lúc bấy giờ phái ‘Đại phu’ (một chức quan) là Nhan Suất hướng đến nước Tề để cầu trợ và phải đồng ý điều khoản là tặng cửu đỉnh cho Tề quốc.

Sau khi nước Tề phái binh đẩy lui quân Tần thì Tề Vương chuẩn bị đòi cửu đỉnh. Nhan Suất muốn phân tán ý định ấy của Tề Vương, bèn hỏi Tề Vương là muốn mượn một con đường nào đó để vận chuyển cửu đỉnh về Tề quốc. Kết quả là không có con đường nào đáp ứng được, vì Nhan Suất kể năm xưa sau khi Chu Võ Vương phạt Trụ lấy được cửu đỉnh xong, để vận chuyển một đỉnh phải dùng đến chín vạn người, cửu đỉnh phải mất tổng cộng là 81 vạn người! Dù Tề Vương có ngần ấy nhân lực, cũng không có con đường nào đủ rộng để có thể vận chuyển về nước Tề. Cuối cùng Tề Vương bãi bỏ việc ấy, cũng không đề cập đến chuyện vận chuyển cửu đỉnh nữa.

Tần Võ Vương ‘nâng đỉnh mà vỡ xương bánh chè’

Thời kỳ Chiến Quốc, Tần Võ Vương sau khi hạ thành Nghi Dương, đã trực tiếp tiến vào Lạc Dương, Thiên tử nhà Chu đích thân nghênh tiếp. Tần Võ Vương tiến tới tông miếu nhà Chu và thấy được chín cái đỉnh. Tần Võ Vương bản thân là người có sức lực phi phàm Trời cho, nên khi nhìn thấy đỉnh của Ủng Châu, ông muốn cùng đại lực sĩ Mạnh Thuyết so tài nâng đỉnh. Sau khi dùng hết sức nâng đỉnh lên khỏi mặt đất nửa thước thì đột nhiên tay ông không còn chút lực, cái đỉnh đó rơi xuống, đè lên chân của ông, làm chân ông bị vỡ nát, và ông chết ngay trong đêm đó.

Trong “Văn Tâm Điêu Long” quyển 18, Lưu Hiệp có nói rằng: “Một lời nói quý giá nặng hơn cửu đỉnh, ba tấc lưỡi hơn cả trăm vạn hùng binh”.

Mao Toại xuất ngôn, đã khiến Sở Vương xuất binh cứu Triệu. Lời nói của Nhan Suất đã thoái lui được thiên vạn địch quân, bảo hộ được cửu đỉnh. Thời Chiến Quốc binh mã loạn lạc, ‘nhất ngôn cửu đỉnh’ không chỉ yêu cầu trí tuệ đầy đủ, mà còn phải có đủ dũng khí. Tần Võ Vương dùng sức mạnh ngang ngược, cho rằng tự mình có thể đủ sức nâng đỉnh, kết quả chết nơi đất khách, trở thành trò cười cho thiên hạ.

Theo secretchina.com

Mạn Vũ biên dịch

 

Chuyện về Hoàng thái hậu hiền đức bậc nhất được đặt tên cho bệnh viện Từ Dụ

Bệnh viện phụ sản lớn nhất TP. Hồ Chí Minh hiện nay được đặt tên theo vị Hoàng thái hậu hiền đức bậc nhất triều Nguyễn – Thái hậu Từ Dụ. “Từ” là nhân từ, từ bi; “Dụ” là khoan dung độ lượng (do nhầm lẫn mà tên bà bị đọc chệch thành Từ Dũ). Cuộc đời của Thái hậu Từ Dụ thật xứng đáng với tôn hiệu ấy.

Người con hiếu thảo

Hoàng thái hậu Từ Dụ (1810 – 1902) có tên húy là Phạm Thị Hằng, xuất thân từ dòng họ Phạm Đăng thị tại giồng Sơn Quy (Gò Rùa), huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định, ngày nay là thị xã Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang. Bà là trưởng nữ của Lễ bộ thượng thư Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng, mẹ là Đức Quốc phu nhân Phạm thị.

Chuyện dân gian ở Gò Công kể: Khi sinh bà thì nước giếng Sơn Quy trong vắt, lúc sử dụng thì ít bệnh tật nên nhiều người tới đây múc nước uống vào để chữa bệnh. Nước Gò Công vốn là nước mặn, nhưng giếng giồng Sơn Quy thì mỗi ngày càng cao lên như hình mai rùa, làm cây trái ở đây đơm hoa kết trái tốt tươi hơn những nơi khác. Vậy nên mới có câu tương truyền: “Lệ thủy trình trường thụy, Quy khâu trúc phúc cơ” (Tạm dịch: Nước đẹp dâng điềm lành, Gò Rùa xây nền phúc).

Lúc nhỏ bà thích đọc sách, thông kinh sử, có đức hiền. Đến năm 12 tuổi, khi mẹ bà là Phạm Phu nhân lâm bệnh nặng, bà ngày đêm hầu hạ cơm thuốc, không rời bên cạnh. Đến khi Phu nhân chết, bà ngày đêm kêu khóc không thôi, giữ tang thương xót chẳng nghĩ gì thêm, như người đã trưởng thành, xa gần nghe biết đều tấm tắc khen là lạ.

Bà Phi hiền đức

Năm bà 14 tuổi, Nhân Tuyên Hoàng thái hậu nghe tiếng hiền, tuyển bà làm Phủ thiếp cho Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Miên Tông, cháu đích tôn của Gia Long. Bà là người có đức trang kính, giữ nết thuận tòng, được Nhân Tuyên Hoàng thái hậu và Thánh Tổ Hoàng đế yêu mến.

Năm 1841, Thiệu Trị Hoàng đế lên ngôi, thứ bậc nội cung chưa định, bà và những thị thiếp khác chỉ được gọi chung là Cung tần. Tới năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), nhân có việc bang giao, Hoàng đế ngự giá Bắc tuần, bà được sung theo hầu. Khi ấy Cung tần theo hầu rất ít, bà ngày đêm hầu hạ bên cạnh, phàm những ấn báu, vật làm tin, đều giao cho giữ cả. Bà là người đoan trang, nhàn nhã, nghiêm túc, cử chỉ độ lượng, lại thường khuyên răn các cung nhân chăm công việc nên được sung chức Thượng nghi, đồng thời nhiếp quản coi sóc Lục thượng.

Tháng 4 năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), bà được phong làm Thành phi, đứng đầu các tước Phi thuộc hàng nhị giai. Sách văn có đoạn:

“…Cung tần Phạm thị, văn phép vốn nếp nhà dòng dõi, phong tư như chất ngọc trắng trong, kính sửa túi khăn, khi tiềm để đã lâu tin tức tốt, đông nhiều con cháu, chốn khuê phòng đều mát mẻ gió hòa. Đoan trang nối sánh tiếng hay, chăm kính thêm dày nết tốt. Kịp khi trẫm lên ngôi báu, gây khuôn mẫu cho phong hóa buổi đầu tiên, đến nay định lại cung giai, cần nêu khen người đức hiền thêm rạng rỡ…”

Tháng 1 năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), bà được phong làm Quý phi, đứng đầu các tước Phi thuộc hàng nhất giai. Vua sai các đại thần Vũ Xuân Cẩn, Tạ Quang Cự dâng kim sách đến tuyên phong. Sách văn có đoạn:

“…Thành phi Phạm thị, nghi lễ nhà dòng, đoan trang nết tốt, như ngọc trong sáng, nên khuôn hòa kính, cung giai 9 bậc đứng đầu, đông nhiều con cháu, đầm ấm khí hòa, phong hóa nhị nam gây mới. Phụng dưỡng giữ đạo trong khuê khổn, hòa vui hả dạ cung Từ Ninh, tuổi hoa bốn chục xanh tươi, phần hưởng thụ còn nhiều phúc lớn, đức tốt sáu cung tiêu biểu, điển bao phong xứng vẽ áo thêu…”

 

Bấy giờ, khi có quan lại gì tâu lên vua Thiệu Trị, bà đều ghi nhớ, đến khi ông hỏi đến bà đều y thế mà thuật lại, không sai một chữ. Bà được Thiệu Trị yêu quý lắm, không gọi tên của bà mà chỉ gọi là Phi. Khi Hoàng đế ngự ở điện Khâm Văn nghe chính sự cùng các cơ mật đại thần, Quý phi được lệnh ở sau rèm nghe những lời tâu của các quan. Khi rảnh rỗi, Thiệu Trị cũng thường hay nghe lời bà khuyên giải mà đưa ra quyết định.

Trong Hậu cung, Quý phi chăm nom yêu mến tất thảy các Hoàng tử, Hoàng nữ của bà và các phi tần khác, không phân biệt ai là con ai, tất cả đều xem bà là mẹ đích. Tiếng hiền trong cung đồn xa, ai nấy đều nể phục bà.

Chân dung hoàng thái hậu Từ Dụ. (Ảnh: wikipedia.org)

Dạy bảo hoàng đế

Một đêm kia, Quý phi mộng thấy một thần nhân áo rộng đai to, đầu tóc bạc, lông mày trắng, mang một tờ giấy vàng viết chữ son có đóng dấu và một chuỗi minh châu trao cho, bảo là: “Xem đây để nghiệm về sau”. Bà nhận lấy, rồi có thai.

Ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu (tức 22 tháng 9 năm 1829), Phạm Quý phi khai hoa nở nhụy, sinh ra hoàng tử Nguyễn Phúc Thì, sau đổi là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, tức vua Tự Đức sau này. Quả nhiên giống giấc mộng, người ta cho rằng hoàng đế là thần nhân phái xuống làm con bà vậy.

Bà vừa là mẹ, vừa là người nuôi nấng, dạy bảo cho vua Tự Đức trong suốt cuộc đời. Đương thời, ngày lẻ thì vua nghị triều bàn bạc việc nước với quần thần, còn ngày chẵn thì vào chầu thái hậu.

Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chép:

“Đức Từ Dụ thuộc sử sách đã nhiều mà biết việc đời cũng rộng. Khi Đức Từ Dụ ban câu chi hay, thì ngài biên ngay vào một quyển giấy gọi là “Từ Huấn Lục”.

Một hôm rảnh việc nước, ngài ngự bắn tại rừng Thuận Trực, gặp phải khi nước lụt. Còn hai ngày nữa thì có kị đức Hiến Tổ, mà ngài chưa ngự về. Đức Từ Dụ nóng ruột, sai quan đại thần là Nguyễn Tri Phương đi rước. Nguyễn Tri Phương đi được nửa đường, vừa gặp thuyền ngự đương chèo lên, mà nước thì chảy mạnh, thuyền không đi mau được. Gần tối thuyền ngự mới tới bến. Khi ấy trời đang mưa, mà ngài vội vàng lên kiệu trần đi thẳng sang cung, lạy xin chịu tội. Đức Từ Dụ ngồi xoay mặt vào màn, chẳng nói chẳng rằng chi cả. Ngài lấy một cây roi mây, dâng lên để trên ghế trát kỷ rồi ngài nằm xuống xin chịu đòn. Cách một hồi lâu, đức Từ Dụ xoay mặt ra lấy tay hất cái roi mà ban rằng: “Thôi, tha cho! Đi chơi để cho quan quân cực khổ thì phải ban thưởng cho người ta, rồi sớm mai đi hầu kị”.

Ngài lạy tạ lui về, nội đêm đó ngài phê thưởng cho các quan quân đi hầu ngự…”

Đối với sở thích săn bắn của vua Tự Đức, bà nhắc nhở rằng:

“Vật cũng như người, bắn chết con trống thời (thì) con mái thương nhớ, bắn con thời con mẹ thảm buồn, rứa thời bắn mà làm chi? Muốn tập bắn thời bắn súng điểu thương cho quen, bắn bia hay hơn. Tự hậu phải bớt bớt đi, chẳng nên sát hại sanh vật”.

Đối với những kẻ dựa vào quyền thế gia tộc của bà để cầu vinh, hoặc che chở kẻ phạm pháp, bà đều phê phán gắt gao. Bà bảo vua Tự Đức rằng:

“Người trong dòng họ chớ lo việc không được làm quan, phải chuyên cần học hỏi, thi đậu vẻ vang gia tộc; chỉ lo là bất tài mà thôi. Ngoài ra, kẻ làm điều trái phép, Hoàng đế nên triệu về kinh, nghiêm trị để làm gương cho người ta biết”.

Sau này, hoàng thái hậu tuổi ngày một cao, nhưng bà vẫn luôn là người mẫn tuệ. Có những việc đã qua rất lâu, những lời ai nói lúc nào, năm nào, sử sách kinh điển thế nào, nói gì bà đều nhớ như in, nên vua Tự Đức có rất nhiều chuyện phải nhờ tới mẹ.

Tượng đài hoàng thái hậu Từ Dụ tại Bệnh viện Từ Dụ, TP.HCM. (Ảnh: Bảo tàng lịch sử TP.HCM)

Thái hậu kiệm ước, thương dân như con

Nhân lễ ngũ tuần, vua Tự Đức cùng đình thần dâng sớ khẩn thỉnh tấn tôn mỹ hiệu, bà dụ rằng:

“Ta đã được thiên hạ phụng sự, thì nên lo những việc thiên hạ đương lo. Năm nay chưa đặng mùa, nhân dân đều chưa được vui sướng, chính lúc Hoàng đế phải chăm lo, lòng ta nào nỡ thản nhiên.

Vả lại tánh ta vốn kiệm ước chẳng chuộng phù hoa, không ngờ ngày nay hưởng được tôn vinh, ta thường e sợ, tu tỉnh chẳng rồi, huống chi còn gia thêm cho hư danh để ta còn nặng cái lỗi thất đức hay sao? Vậy thì sớ thỉnh ấy nên bãi đi, chỉ nguyện chư công và quần thần lo giúp chính trị, giáo dục thế nào cho ta được thấy thạnh trị thái bình, thì không chi vui bằng”.

Trong cuộc sống hằng ngày, bà rất tiết kiệm tiêu dùng và nghiêm khắc đối với sự lãng phí, xa hoa. Bấy giờ có lệ tiến sáp vàng (tức đèn cầy tốt, làm bằng thứ sáp quý) vào cung, nhưng Thái hậu đốt rất hà tiện. Bà nói:

“Ta còn nhớ gia tư ta hồi ta còn nhỏ cũng chẳng dư dả gì, dầu đèn chẳng đủ để thắp thâu đêm. Nay nhờ trời và nhờ phúc ấm của các bậc tiên đế mà có bốn biển, mà trở nên sang giàu đó thôi. Một sợi tơ, một hạt thóc cũng đều là máu mỡ của dân, nếu lãng phí thì trước đã không ích lợi gì, sau lại mang điều xấu rất đáng tiếc, chi bằng cất giữ để nhà nước chi dùng”.

Vua vào trong cung, thấy trong các thứ ngự dụng của Thái hậu, có cái quạt giấy nan tre đã cũ, chén bát ăn cơm thì dùng đã lâu ngày, có cái rạn vỡ, bèn sai người hầu đi đổi cái khác, nhưng Thái hậu không cho. Vua lại thấy cái túi đựng hạt thủy tinh để xoa mắt đã cũ (Thời ấy, người ta quan niệm rằng, nếu lấy hạt thủy tinh, loại như hòn bi trẻ con chơi đem xoa đều vào mắt thì mắt sẽ sáng ra), xin đem đổi cái túi mới, Thái hậu nói rằng:

“Cái hạt thủy tinh để xoa mắt chỉ làm cho mắt hơi mát mà thôi, việc chữa trị không công hiệu lắm. Nếu đem đổi cái mới thì để lâu nó cũng cũ đi, chi bằng cứ để nguyên cái cũ đổi mà làm gì?”

Lo lắng đến cuộc sống nhân dân, bà thường hỏi vua Tự Đức về việc đắc thất và dạy bảo những điều thiết thực về chính trị. Năm 1874, khi hay tin Pháp xâm chiếm toàn cõi Nam Kỳ và buộc triều đình Huế ký hòa ước nhượng địa, bà bỏ cả ăn uống, mặt ủ mày chau theo vận nước khuynh nguy…

Tạm kết

Trong bài “Tượng đài sông Hương: Thái hậu Từ Dũ”, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết:

“Bà là người con gái đất Gò Công, lúc ban đầu vào Huế làm cung nữ hầu vua Thiệu Trị. Nhà vua ngự giá Bắc tuần, nàng theo giúp việc hàn mặc, nổi tiếng thông minh và linh hoạt… Nghe nói bà Từ Dũ còn là người đưa giống cá thát lát từ quê nhà ở Nam Bộ ra gây giống ở thành phố Huế; cá sinh sôi đến ngày nay đầy hồ đầy sông. Ở Huế bà nổi tiếng là một bà thái hậu rất thương dân. Hằng năm đến lễ mừng thăng cấp, mừng thọ của bà, bà đều tìm cách thoái thác hoặc trì hoãn, thực chất là sợ khổ dân…

Hồi ấy người Pháp cho bắc lại cây cầu Trường Tiền bằng sắt và bắt dân phải nộp thêm thuế, nói là lấy kinh phí làm cầu. Bà Từ Dũ tự nguyện thay mặt cho dân viết một lá đơn xin quan Tây miễn thuế… Trước đây, dân Huế có lưu hành bài vè “Bà Từ Dũ xin thuế cho dân”. Nhân đức của bà đã đi vào lòng người là vậy…”

Hoàng thái hậu Từ Dụ quả là người phụ nữ Công, Dung, Ngôn, Hạnh vẹn toàn, là tấm gương sáng cho phụ nữ muôn đời noi theo.

Khiêm Từ (tổng hợp và biên soạn)

 

Đường phố Hà Nội – Danh nhân và lịch sử: Lý Thái Tổ, nhà tiên phong của những cuộc cải cách

Có người nói ý nghĩa của cái tên “Hà Nội” là thành phố ở trong những con sông: sông Hồng và sông Đáy. Hà Nội đã qua hơn 1000 năm tuổi với phần lớn thời gian được chọn làm thủ đô nước Việt. Hà Nội cũng có những lúc thịnh suy, thăng trầm theo thời cuộc nhưng luôn có nét văn hóa rất riêng không giống bất cứ vùng đất nào khác. Mỗi con phố cũ của Hà Nội không chỉ là một chốn đi về mà là cả một không gian văn hóa, lịch sử. Từng gốc cây ngọn cỏ, những mái ngói nâu sồng, tường cũ rêu phong là những nhân chứng lịch sử vừa gần gũi, vừa huyền ảo về một Hà Nội vàng son và hào hùng.

Đại Kỷ Nguyên trân trọng giới thiệu loạt bài: “Đường phố Hà Nội với danh nhân và lịch sử” với hy vọng chia sẻ với độc giả chút tình cảm về Hà Nội và người xưa việc cũ.

Phố Lý Thái Tổ

Phố Lý Thái Tổ có chiều dài 882m, được giới hạn bởi một đầu là phố Tràng Tiền, đầu kia là phố Lò Sũ. Phố này có thể nằm ngay trên vị trí dải đất chạy men theo bức tường phía đông của tòa thành đất bao quanh thành Thăng Long xưa, hoặc có thể chính là bức tường thành đó. Hoặc có thể đó là một con đê cũ. Khi xưa khu vực này có nhiều hồ ao ruộng, sau được san lấp lại. Chỗ đó là đất của mấy thôn cũ là Tả Lâu, Yên Vệ, thuộc huyện Thọ Xương cũ.

Tên của phố Lý Thái Tổ thời Pháp thuộc khi mới xây dựng là phố Courbet. Sau 1945 mới được đổi thành phố Lý Thái Tổ. Phố Lý Thái Tổ là một trong những con phố Tây nằm ngoài khu vực 36 phố phường. Khu vực phố Tây quanh Hồ Gươm, Tràng Tiền, Đồn Thủy được xây dựng vào giai đoạn 1886-1910, và phố Lý Thái Tổ thì được xây dựng khoảng đầu những năm 1900. Khu phố Tây, như tên gọi, là cho người Pháp và những người phục vụ cho chính quyền bảo hộ ở, cách biệt hẳn với 36 phố phường của dân Việt. Đặc điểm của khu phố Tây là đường xá rộng rãi, nhiều nhà biệt thự diện tích lớn, có sân vườn rộng, yên tĩnh và ngập trong bóng cây xanh mát, khác hẳn khu 36 phố phường.

Phố Lý Thái Tổ. (Ảnh chụp từ google)

Phố này có một số công trình kiến trúc quan trọng. Có trường tiểu học Courbet, tức trường Hàng Vôi, nay là trường tiểu học Nguyễn Du (số nhà 25-27), có câu lạc bộ Cercle dành cho người Pháp ở số nhà 38, có nhà thờ Tin Lành ở số nhà 61. Vườn trẻ Ấu trĩ viên ở số nhà 34-36 nay là cung Thiếu nhi Hà Nội.

Ở đoạn giữa phố trông về phía Hồ Gươm thì thấy trước mặt là vườn hoa Paul Bert, sau 1945 được đổi thành vườn hoa Chí Linh. Đến năm 1985 vườn hoa được đổi tên lần nữa thành vườn hoa Indra Ghandi và nay thì mang tên vườn hoa Lý Thái Tổ.

Đối diện vườn hoa Paul Bert bên kia đường chính là Ngân Hàng Đông Dương, nay là Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam.

Chéo bên kia đường với Ngân Hàng Đông Dương là vườn hoa Con Cóc. Vườn hoa hình tam giác này có bể nước, giữa bể có đài bia Chavassieux. Vườn hoa này có tên Con Cóc là vì bốn góc bể nước có bốn con cóc bằng đồng phun nước lên cao giội xuống bể.

Đi tiếp phố Lý Thái Tổ về phía Tràng Tiền, hết khu vực vườn hoa Con Cóc thì đến khách sạn Metropole là khách sạn to lớn và hiện đại nhất thời bấy giờ. Khách sạn chiếm một khu đất khá rộng trông ra ba mặt phố Rivière (Ngô Quyền), Courbet (Lý Thái Tổ) và vườn hoa Con Cóc. Khách sạn Metropole chính là nơi đón tiếp những chính khách, nghệ sĩ, nhà văn hóa lớn của thế giới từ khi nó được xây dựng đến nay.

Nói chung phố Lý Thái Tổ là một con phố chính có nhiều công trình quan trọng trong khu vực phố Tây ở phía Đông Hồ Gươm. Phố mang tên vị vua Lý Thái Tổ, người đã dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long từ năm 1010, có thể coi là vị vua đã khai sinh ra Hà Nội nghìn năm văn hiến.

Đặc điểm của khu phố là đường xá rộng rãi, nhiều nhà biệt thự diện tích lớn, yên tĩnh và ngập trong bóng cây xanh mát. (Ảnh chụp từ google)

Lý Thái Tổ – vị vua tiên phong của những cải cách

Lý Thái Tổ tên thật là Lý Công Uẩn, được tôn lên làm vua năm Kỷ Dậu (1009) mở ra thời kỳ phát triển rực rỡ của nước Việt trên nhiều phương diện, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa tư tưởng. Sách sử Đại Việt Sử ký Toàn thư ca ngợi ông là “vua ứng mệnh trời, thuận lòng người, nhân thì mở vận, là người khoan từ nhân thứ, tính mật ôn nhã, có lượng đế vương”Đây là vị vua mà cuộc đời có nhiều chi tiết thú vị và huyền ảo.

Lý Thái Tổ có xuất thân thật bí ẩn. Chính sử cho biết mẹ ông họ Phạm nhưng không ghi tên là gì. Còn theo dã sử và giai thoại dân gian, bà tên là Phạm Thị Ngà. Cha vua thì càng khó xác định hơn. Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: “Mẹ vua đi chơi chùa Tiêu Sơn, cùng với thần nhân giao cấu rồi có chửa, sinh ra vua ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất (974)… vua từ bé đã thông minh, vẻ người tuấn tú khác thường”.

Bài ký ở chùa Tiêu Sơn có nói: “Thái hậu cảm tinh anh của Bạch Hầu mà sinh ra vua”. Theo sách Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ thì: “Ngoại truyện lại nói: Mẹ vua năm 20 tuổi nghèo hèn không có chồng, nương tựa người lão sa môn ở chùa Ứng Thiên, làm việc thổi nấu, khi lửa tắt bà đang ngủ lơ mơ, lão sa môn ngẫu nhiên chạm phải, giật mình trổ dậy rồi có thai mà sinh ra vua… Thế thì thật không biết người nào là cha vua nữa”. Chỉ biết Lý Thái Tổ từ nhỏ được sư trụ trì chùa Cổ Pháp là Lý Khánh Văn nhận làm con nuôi, do vậy lấy họ Lý. Có lẽ vua đi ra từ cửa Phật nên sau này mới sùng kính Phật giáo đến vậy.

Việc lên ngôi của Lý Thái Tổ cũng có điềm báo thật ly kỳ. Có cây gạo ở làng Diên Uẩn, châu Cổ Pháp quê ông (nay thuộc Từ Sơn, Bắc Ninh) bị sét đánh, để lại vết tích là một bài thơ tiên đoán những sự việc của nước Nam trong 1000 năm lịch sử. Trong đó có câu:

“Thụ căn liễu liễu,
Mộc biểu thanh thanh,
Hòa đao mộc lạc,
Thập bát tử thành…”

Có nghĩa là:

“Gốc cây to xù,
Lá cây xanh xanh,
Cây hòa đao rụng,
Thập bát tử nổi lên…”

Việc lên ngôi của Lý Thái Tổ cũng có điềm báo từ trước. (Ảnh minh họa: youtube.com)

‘Hòa đao mộc’ (禾刂木) là chữ Lê (梨), ‘thập bát tử’ (十八子) là chữ Lý (李). Câu sấm ấy ý nói nhà Lý sẽ thay nhà Lê, đấy là giải thích của sư Vạn Hạnh, một bậc cao tăng có tài tiên tri. Sử gia Ngô Thì Sĩ trong Việt sử tiêu án viết rằng: “Sét đánh vào cây mà thành câu sấm chỉ có 40 chữ, mà đủ hết cả hưng vong của các đời trong thời gian hơn một nghìn năm. Trời có nói gì đâu, đó là nhà sư Vạn Hạnh tinh thông cách sấm bói, nhân việc sét đánh cây đa, nói thác ra các chữ ấy, để tỏ ra là thần dị đấy thôi”. Thực ra, nếu Ngô Thì Sĩ sống vào thời hiện đại mà biết câu chuyện về tảng tự thạch có niên đại 270 triệu năm ở tỉnh Quý Châu, một hôm đất đá bên ngoài sụp xuống lộ ra dòng chữ thần thì có lẽ ông phải thay đổi quan điểm về sự kiện sét đánh gốc đa làng Cổ Pháp mà hiện ra dự ngôn như trên đã nói.

Lại có chuyện “ở viện Cam Tuyền, chùa Ứng Thiên Tâm, châu Cổ Pháp có con chó đẻ con sắc trắng có đốm đen, thành ra hai chữ Thiên tử, kẻ thức giả nói đó là điềm người sinh vào năm Tuất sẽ làm Thiên tử. Đến đây vua sinh năm Giáp Tuất, làm thiên tử, quả nhiên ứng nghiệm” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Lý Thái Tổ lên ngôi ngày Quý Sửu, tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009), chỉ hai ngày sau khi vua Lê Ngọa Triều mất; khi đó ông 36 tuổi và là vị vua triều Lý tuổi cao nhất khi lên ngôi.

Lý Thái Tổ là một trong những vị vua có tôn hiệu dài nhất. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, cuối năm Kỷ Dậu (1009) Lý Công Uẩn được tôn lên làm vua, lấy niên hiệu là Thuận Thiên. Triều đình “dâng tôn hiệu là Phụng thiên chí lý ứng vận tự tại thánh minh long hiện duệ văn anh vũ sùng nhân quảng hiếu thiên hạ thái bình khâm minh quang thạch chương minh vạn bang hiển ứng phù cảm uy chấn phiên man duệ mưu thần trợ thánh trị tắc thiên đạo chính hoàng đế”. Cả thảy 52 chữ.

Lý Thái Tổ là vị vua lập nhiều hoàng hậu nhất, sau khi lên ngôi đã cho lập 6 hoàng hậu. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư: “Lập 6 hoàng hậu, duy có đích phu nhân gọi là hoàng hậu Lập Giáo, quy chế xe kiệu và y phục khác hẳn với các cung khác”. Đến tháng 3 năm Bính Thìn (1016) Lý Thái Tổ lại lập thêm 3 hoàng hậu nữa. Như vậy tổng cộng là 9 hoàng hậu. Hậu cung thời xưa có tam cung lục viện, vua chúa có phi tần mỹ nữ cả trăm, cả nghìn người là thường. Nhưng ngôi vị hoàng hậu, bậc mẫu nghi thiên hạ thì thường chỉ có một. Nên hậu nhân cũng thấy khó lý giải với việc lập nhiều hoàng hậu của vị vua đầu triều Lý. Sao không lập một bà làm hoàng hậu, tám bà kia thì gọi là Hoàng phi?

Lý Thái Tổ cho dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La (Hà Nội ngày nay) vào năm Canh Tuất (1010). Tương truyền khi đoàn thuyền đến đỗ bên bờ sông Hồng thì “có rồng vàng hiện ra ở thuyền ngự” (Đại Việt sử ký toàn thư) vì thế vua đã đặt tên cho kinh đô mới là Thăng Long. Đây là tên gọi của một kinh đô được sử dụng lâu nhất trong lịch sử Việt Nam.

Việc Lý Thái Tổ cho dời đô cũng là một câu chuyện ly kỳ. (Ảnh minh họa: pinterest.com)

Có rồng vàng hiện ra đón vua thật không? Ta không thể khẳng định, nhưng cũng không thể bác bỏ với suy diễn rằng đó là một màn “hý lộng quỷ thần” với mục đích lấy chính danh. Các nhà khảo cổ những năm gần đây đã tìm thấy những bằng chứng mới về loài rồng Châu Á, về xương cốt của chúng. Có người còn quay được những hình ảnh chân thực về loài rồng.

Trong các thư tịch cổ của văn khố triều đình Trung Hoa hoặc trong những tài liệu dân gian cũng nói về những lần rồng xuất hiện. Vả lại, những câu chuyện kỳ lạ như tảng tự thạch 270 triệu năm tuổi ở Quý Châu còn có thật thì có lẽ chúng ta phải nhìn lại những sự kiện lịch sử mang màu sắc huyền thoại với góc nhìn mới.

Lý Thái Tổ là vị vua đầu tiên trực tiếp xét xử các vụ án và đã bố cáo việc này cho trăm họ cùng biết. Ngay sau khi lên ngôi ông đã ban chiếu quy định rằng: “Từ nay ai có việc tranh kiện nhau, cho đến triều tâu bày, vua sẽ thân giải quyết” (Đạí Việt sử ký toàn thư).

Lý Thái Tổ cũng đã tổ chức hoàn thiện lại các đơn vị hành chính mà các đời vua trước chưa làm được. Đến tháng 12 năm Canh Tuất (1010), Lý Thái Tổ chia lại khu vực hành chính trong cả nước thành 24 lộ, dưới lộ là phủ, huyện, hương, giáp và thôn. Tại khu vực miền núi thì được chia thành các châu, trại, đạo.

Lý Thái Tổ cũng là vị vua đầu tiên thực hiện chính sách thông hôn để nắm vững quyền kiểm soát đối với các khu vực biên ải, miền núi xa xôi. Sau khi lên ngôi, ông đã gả con gái là công chúa Đông Thiên cho tù trưởng động Giáp ở Lạng Châu (nay thuộc Bắc Giang và một phần Lạng Sơn) là Giáp Thừa Quý. Kể từ đó các đời vua nối tiếp của triều Lý đều thực hiện chính sách liên kết với các tù trưởng dân tộc thiểu số bằng quan hệ hôn nhân.

Đây là một chính sách hết sức khôn ngoan của nhà Lý, bắt đầu từ Lý Công Uẩn. Thời ấy, việc giao thông khó khăn, địa hình bị chia cắt bởi rừng núi hoang vu. Triều đình cũng không thể kiểm soát hết được các thế lực địa phương, đặc biệt là các địa phương gần biên giới phía Bắc. Nếu xử trí không khéo, thay vì trở thành phên dậu che chắn cho triều đình, họ lại có thể trở thành lực lượng chống đối hay làm nội ứng cho người phương Bắc xâm nhập.

Lý Thái Tổ là vị vua đầu tiên của triều Lý cho đúc tiền để lưu thông, đó là đồng “Thuận Thiên đại bảo”, mặt sau có chữ Nguyệt. Tính từ kỷ nguyên giành được độc lập tự chủ thì đây là đồng tiền thứ 3 của dân tộc ta, sau đồng “Thái Bình hưng bảo” của Đinh Tiên Hoàng và “Thiên Phúc trấn bảo” của Lê Đại Hành.

Lý Thái Tổ là vị vua đặc biệt quan tâm đến việc sửa chữa, trùng tu lại các công trình tôn giáo. Cuối năm Canh Tuất (1010), ông “hạ lệnh cho các hương ấp, nơi nào có chùa quán đã đổ nát đều phải sửa chữa lại” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Lý Thái Tổ là vị vua đầu tiên thực hiện miễn thuế cho dân chúng trong một thời gian nhất định. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, vào tháng 12 năm Canh Tuất (1010) vua “đại xá các thuế khóa cho thiên hạ 3 năm, những người mồ côi, góa chồng, già yếu thiếu thuế đã lâu đều tha cho cả”. Các vua miễn thuế cho dân đều có lòng nhân.

Lý Thái Tổ là vị vua đầu tiên thực hiện miễn thuế cho dân chúng trong một thời gian nhất định… (Ảnh minh họa: dkn.tv)

Lý Thái Tổ là vị vua đầu tiên quan tâm đến việc đào tạo, dạy dỗ việc trị nước cho người kế vị. Năm Nhâm Tý (1012) ông sai làm cung Long Đức ở ngoài hoàng thành cho Thái tử ra đó ở để gần gũi với bách tính nhằm nắm được đời sống dân tình.

Lý Thái Tổ cũng rất chú ý việc võ bị. Triều đại của ông là triều đại duy nhất trong lịch sử nước Việt có quân đội chiến đấu với quân Nam Chiếu. Nam Chiếu là một quốc gia phía Nam Trung Quốc, giáp giới với Đại Việt, nay là khu vực tỉnh Vân Nam. Cuối năm Nhâm Tý (1012) ông nghe tin báo người Nam Chiếu xâm nhập châu Vị Long (nay thuộc Cao Bằng) bèn sai quân đi đánh, bắt được rất nhiều người và hơn 1 vạn con ngựa. Tháng giêng năm Giáp Dần (1014), 20 vạn quân Nam Chiếu tràn vào châu Bình Lâm (nay là Cao Bằng), “vua sai Dực Thánh vương đem quân đi đánh, chém được hơn 1 vạn đầu, bắt sống được quân lính và ngựa không kể xiết” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Lý Thái Tổ cũng là vị vua đầu tiên trong triều Lý dám chủ động Bắc phạt để răn đe và thị uy với người phương Bắc. Năm Nhâm Tuất (1022) vua sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh Đại Nguyên Lịch (một vùng đất tiếp giáp giữa nước ta và Tống), sau đó “quân ta đi sâu vào trấn Như Hồng đất Tống, đốt kho tàng rồi rút về” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Lý Thái Tổ là vị vua đầu tiên cho biên soạn phả hệ hoàng tộc, vào năm Bính Dần (1026) “mùa xuân, tháng giêng, xuống chiếu làm ngọc điệp (phả hệ)” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Lý Thái Tổ làm vua 18 năm (1009-1028), đặt những nền móng đầu tiên cho một giai đoạn phát triển rực rỡ của văn hóa Việt. Sách Việt giám thông khảo tổng luận đánh giá về sự nghiệp của ông như sau: “Lý Thái Tổ nhân Ngọa Triều thất đức, hiệp điềm tốt, sét đánh thành chữ, ứng mệnh trời thuận lòng người, thừa thời mở vận; có đại độ khoan nhân, có quy mô xa rộng, dời đô định vạc, kính trời yêu dân; tô ruộng có lệnh tha, phú dịch có mức độ; Bắc Nam thông hiếu, thiên hạ bình yên”.

Chẳng những có công lớn với Đại Việt, ông còn có công lớn với đất Thăng Long, thủ đô ngàn năm văn hiến của nước Việt yêu dấu. Do vậy, bài đầu tiên của loạt bài “đường phố Hà Nội với danh nhân và lịch sử” này xin được viết về ông và con phố mang tên ông: phố Lý Thái Tổ.

Bình Nguyên

Tài liệu tham khảo:

  • “Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX” của tác giả Nguyễn Văn Uẩn
  • “Phố và Đường Hà Nội” của nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc
  • “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên và các sử gia đời sau
  • “Việt sử tiêu án” của Ngô Thì Sĩ
  • “Việt giám thông khảo tổng luận” của Lê Tung
  • “Những điều thú vị về các vua triều Lý” của tác giả Lê Thái Dũng

Ly gián Phạm Tăng với Hạng Vũ: Thế cuộc thiên hạ cuối cùng đã được định đoạt từ đây

Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ là một tướng quân nổi tiếng thời Hán-Sở tranh hùng, từng có công trong việc lật đổ nhà Tần và tranh chấp thiên hạ với Hán Cao Tổ Lưu Bang. Sở dĩ Hạng Vũ có thể xưng hùng xưng bá trong thiên hạ là nhờ có sự phò tá của một bậc quân sư kỳ tài, đó là Phạm Tăng.

Việc Anh Bố phản Sở để theo Hán là một đòn nặng đối với Hạng Vũ, nhưng tuyệt đối không phải là đòn trí mạng. Sau khi Hàn Tín bỏ đi, dưới trướng của Hạng Vũ vẫn còn một viên tướng trí dũng song toàn là Chung Ly Muội. Hơn nữa, quân sư Phạm Tăng vẫn còn, hệ thống “túi khôn” vẫn chưa bị tê liệt.

Giữa sông Hoàng Hà và đại bản doanh, Lưu Bang cho làm một tuyến đường vận chuyển. Nhưng được Chung Ly Muội đưa ra kế sách, Hạng Vũ không ngừng sai quân khinh kỵ tập kích quấy nhiễu con đường vận chuyển lương thực này của quân Hán, khiến quân Hán cơ cực chịu cái khổ thiếu lương thực.

Lưu Bang và Trần Bình thương lượng, Trần Bình nói: “Thần có biện pháp, có điều Hán Vương phải trao cho thần toàn quyền xử lý việc này”.

Lưu Bang phê chuẩn, chi cho một khoản kinh phí khá lớn là 4 vạn cân tiền đồng, trực tiếp do Trần Bình tùy ý sử dụng. Trần Bình vốn đã từng ở trong doanh trại quân Hạng Vũ, có rất nhiều người quen, liền đem tiền đi tạo quan hệ khắp trên dưới. Người ta tự nhiên là vui cười tít mắt:

– Trần Bình hào phóng như thế này, cần tại hạ làm việc gì?

– Cũng chẳng có việc gì, chỉ là nói vài câu mà thôi.

– Nói câu gì?

– Trong các tướng quân Sở, chiến công của ai là nhiều nhất?

– Tất nhiên là Chung Ly Muội và thuộc hạ rồi.

– Nhóm người Chung Ly Muội lập được nhiều chiến công như thế này lại không được phong vương, hầu, trong lòng có oán hận không?

– Có lẽ có?

– Trong lòng họ oán hận, khó đảm bảo sẽ không câu kết với Hán Vương, cùng mưu tính chống lại Hạng Vương!

– Cái này cũng có khả năng!

– Nhóm người Chung Ly Muội này câu kết với Hán Vương, thì ắt sẽ ra trận mà không dốc sức, quân Sở mãi vẫn không hạ được Huỳnh Dương, lẽ nào chẳng phải nguyên cớ này?

– Ồ, nghe có vẻ đúng là như thế!

Trần Bình theo kế ly gián làm Hạng Vũ cô độc. (Ảnh minh họa: youtube.com)

Tục ngữ nói, tam nhân thành hổ. Những lời đồi thổi như thế này lan truyền rất nhanh trong doanh trại quân Sở, khó tránh khỏi truyền đến tai Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ. Hạng Vũ cũng bán tín bán nghi: “Lẽ nào có chuyện như thế này?”. Tuy không thể khẳng định được tin đồn là thật hay giả, nhưng sự tín nhiệm và trọng dụng của Hạng Vũ đối với nhóm người Chung Ly Muội từ đó đã bị giảm đi nhiều.

Đây mới chỉ là chiêu thứ nhất của Trần Bình. Tiếp theo, Hán Vương giả ý cầu hòa, hai bên tiến hành vòng đàm phán. Khi sứ giả của Tây Sở đến Huỳnh Dương, Trần Bình hạ lệnh mở tiệc lớn, thui nguyên con bò tốt nhất cho sứ giả ăn.

Sứ giả của Tây Sở được sủng ái quá nên kinh hãi, bất giác than rằng: “Tuy uy danh của Bá Vương hiển hách, Hán Vương cũng phải khách khí vài phần. Tại hạ nhận được sự tiếp đãi thế long trọng này, quả không xứng, mà khước từ lại bất kính…”.

Đúng lúc sứ giả Tây Sở đang chuẩn bị ăn tiệc, Trần Bình đột ngột bước vào, hạ lệnh cho người hầu dọn toàn bộ thức ăn bữa tiệc đi, rồi nói: “Tôi cứ tưởng là người của Á phụ (tức Phạm Tăng, mưu thần, đại tướng của Hạng Vũ, được Hạng Vũ coi như cha, nên gọi là Á phụ), thì ra là người của Hạng Vương sai đến…”

Sứ giả Tây Sở cũng trấn tĩnh tự tại, nhưng trong lòng thấp thỏm, lẽ nào còn có chiêu đãi thịnh soạn hơn cả nguyên con bò tốt? Đợi đến khi bữa ăn mới được đem lên, thấy chỉ toàn cơm với rau mà thôi.

Sứ giả Tây Sở nổi giận. Trở về doanh trại quân Sở, đem tình hình như trên, thêm mắm thêm muối báo cáo với Hạng Vũ. Hạng Vũ vốn đã nghe những lời gièm pha Á phụ có tâm bất mãn, nên càng không tín nhiệm đối với Phạm Tăng nữa.

Phạm Tăng là người sáng suốt, trí tuệ, rất mau chóng phát hiện ra người trẻ tuổi mà ông đặt toàn bộ hy vọng này đã ghét bỏ mình như thế này rồi, nổi giận cáo từ bỏ đi: “Đại sự thiên hạ đã định rồi, là quân vương tự định. Xin ban cho để hài cốt về quê chết”.

Phạm Tăng cuối cùng cũng rời bỏ Hạng Vũ về quê. (Ảnh minh họa: youtube.com)

Phạm Tăng nói “Đại sự thiên hạ đã định rồi…”, có nghĩa là, “đại thế trong thiên hạ đã được quyết định rồi, nằm trong tay Hạng Vương, ngài tự làm tiếp đi, thần già yếu xin về quê dưỡng lão, được chết ở quê”. Nhưng câu nói đó còn có ý là, “đại thế trong thiên hạ đã được quyết định, ngài đã tự tạo ra như vậy. Tôi đã già, không nỡ lòng nhìn ngài thân bại danh liệt, nên để tôi cho lá rụng về cội đi”.

Khi Phạm Tăng rời đi, Hạng Vũ cũng không cố gắng giữ lại. Hạng Vũ như chim ưng mới lớn, đôi cánh đã đủ lông mạnh mẽ, luôn muốn mau chóng rời khỏi vòng tay ôm ấp của chim mẹ, để tự do bay liệng trên bầu trời bao la. Thanh niên như chim mới ra ràng, thường chán ngán những lời khuyên của cha mẹ. Tây Sở Bá Vương tuổi trẻ anh hùng, đã sớm có được danh tiếng vang khắp thiên hạ, có lẽ từ lâu đã chán ngán với những lời khuyên răn của Á phụ, càng không hài lòng với những lời giáo huấn dạy bảo của ông.

Phạm Tăng rời đi, tự nhiên đầy lòng thương cảm, Tây Sở Bá Vương ngày hôm nay đã hoàn toàn không còn là Hạng Vũ tuổi trẻ năm xưa khi thúc phụ đột tử, rối bời không biết xoay sở thế nào. Nếu như khi đó cái đầu đã dựa vào vai Á phụ khóc lóc, thì hôm nay đã ngẩng cao ngạo nghễ, không còn coi ai ra gì nữa!

Phạm Tăng là người Cư Sào (Sào Hồ, An Huy ngày nay), ông về giữa đường, mọc nhọt độc trên lưng mà chết. Nhọt độc là một loại mụn do khí huyết bị tà độc đình trệ, phát ra ở giữa gân cốt và cơ bắp. Phạm Tăng chết, có lẽ là kết quả do u uất phiền muộn tích lũy dẫn đến tâm lực đều mang bệnh.

Cái chết của Phạm Tăng khiến người ta cảm khái. Dưới trướng Lưu Bang, văn có Tiêu Hà, Trương Lương, võ có Hàn Tín. Còn bên Hạng Vũ, thực sự chỉ còn có mỗi Phạm Tăng là có tài phò tá vua. Khi Hạng Lương (chú của Hạng Vũ, và cũng là mưu thần có tài) chết ở trận chiến Định Đào, Hạng Vũ mới tròn 25 tuổi, Phạm Tăng đã ngoài 70 rồi. Nhân sinh thất thập cổ lai hy, cao quan hậu lộc, châu báu mỹ nhân, đối với Phạm Tăng mà nói cũng đã không còn ý nghĩa gì nữa rồi, do đó ông phò tá Hạng Vũ là hoàn toàn xuất phát từ cái nghĩa như huynh đệ với cố nhân Hạng Lương, và cái tình như phụ tử với Hạng Vũ. Do đó thân phận Phạm Tăng không giống với các mưu sỹ thông thường, vừa là thầy của Hạng Vũ, lại vừa là tham mưu của Hạng Vũ. Hạng Vũ gọi Phạm Tăng là Á phụ, chính là sự khẳng định quan hệ không tầm thường.

Phạm tăng ra đi, Hạng Vũ trở thành người cô độc. Tuy oai hùng nhưng thực tế lợi thế đã nghiêng về Lưu Bang rồi. (Ảnh: youtube.com)

Nhưng cũng chính quan hệ như thế này khiến Phạm Tăng trước mặt Hạng Vũ biết được điều gì đều nói, nói không bao giờ hết. Khẩu khí, tư thái ông nói với Hạng Vũ luôn luôn là bậc bề trên, chẳng nể nang thể diện. Khi Hạng Vũ cự tuyệt kiến nghị của ông, Phạm Tăng luôn luôn dốc sức dùng lý lẽ tranh luận, to tiếng quát nạt, khiến Hạng Vũ cảm thấy như là đứa trẻ bị phụ thân nghiêm khắc mắng chửi, từ đó nảy sinh tâm lý phản nghịch, chính là cơ hội để Trần Bình dùng kế ly gián.

Do đó, kế ly gián của Trần Bình cũng chỉ là chất xúc tác mà thôi. Nhân tố chân chính quyết định chia rẽ Phạm Tăng và Hạng Vũ đã có từ lâu rồi, đó là sự kiện Hồng Môn yến, Hạng Vũ nghe theo kế Phạm Tăng mở tiệc ở Hồng Môn rồi giết Lưu Bang, nhưng cuối cùng, Hạng Vũ đã mủi lòng không giết, khiến Phạm Tăng nổi giận.

Cái chết của Phạm Tăng tuyên cáo Tây Sở Bá Vương cuối cùng trở thành vị vua cô độc, đây là đòn trí mạng. Từ đó Hạng Vũ như đã mất đi người chỉ dẫn, tuy sức lực vô song, nhưng chỉ là con rối bị Lưu Bang, Hàn Tín, Bành Việt đùa giỡn, dẫn đến kết cục sức lực cạn kiệt.

Lúc đó là năm 204 TCN, mùa hạ năm Hán Vương thứ 3, cuộc chiến Hán Sở đã trải qua 3 năm, xem ra Tây Sở Bá Vương vẫn còn rất mạnh, thực tế thì cán cân thắng lợi đã lặng lẽ nghiêng về Hán Vương Lưu Bang rồi.

Theo Cá Nhân Đồ Thư Quán
Nam Phương biên dịch

Lẫy lừng trận đại chiến Vàm Nao, thủy quân nhà Nguyễn đánh tan 4 vạn quân Xiêm xâm lược

Lịch sử của nước Nam là lịch sử chống ngoại xâm. Từ khi nước ta lập quốc ở miền Bắc cho đến lúc mở cõi vào phương Nam, chưa bao giờ ngừng nghỉ chống lại những kẻ thù hùng mạnh muốn xâm lấn. Có một sự trùng hợp kỳ lạ là tất cả những chiến công vĩ đại nhất trong lịch sử chống xâm lăng của nước ta đều diễn ra trên những con sông.

Khi ông cha ta Nam tiến mở mang bờ cõi, những con sông phương Nam lại lần nữa được vinh danh với những trận thủy chiến khiến cho quân thù kinh hồn bạt vía.

Tuy ai ai cũng đều biết đến trận Rạch Gầm Xoài Mút nơi mà Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ giương uy nhưng lại vô tình không biết sau đó vài chục năm lại có trận thủy chiến ác liệt không kém, và nhờ chiến thắng đó mà miền Nam được toàn vẹn đến ngày nay. Đó chính là trận đại chiến Vàm Nao của nhà Nguyễn chống quân Xiêm La với sự chỉ huy tài tình của Bình Khấu tướng quân Lương Tài Hầu Trần Văn Năng.

Đốc binh Vàng hay Bình Khấu tướng quân Trần Văn Năng?

Bên bờ sông Đốc Vàng Thượng thuộc ấp Nam, xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình, Đồng Tháp, có một ngôi đền gọi là Dinh ông Đốc Vàng, hằng năm đến ngày 15, 16 tháng Hai âm lịch, người dân các nơi đến lễ bái tấp nập. Dân địa phương truyền rằng hơn 100 năm trước đây là ngôi miếu cổ đổ nát, trong đó có thờ bài vị “Trần Ngọc Thượng tướng Quận công”.

Người dân cho rằng đây là nơi thờ ông Đốc binh Vàng Trần Ngọc, người có công đánh giặc Xiêm ở sông Cổ Hủ, Vàm Nao dưới triều Minh Mạng. Khi nghe tin thành Châu Đốc thất thủ, ông đã đốt thuyền lương và tự tử tại đây để lương phạn không rơi vào tay giặc. Vua thương tiếc phong tặng tước quận công, dân làng lập miếu thờ. Từ đó, vàm rạch nơi ông qua đời được gọi là Đốc Vàng. Về sau dân trong vùng rủ nhau xây lại miếu.

Nhưng lạ một điều là trong chính sử nhà Nguyễn lại không ghi thông tin nào về vị Thượng tướng quận công Trần Ngọc kia mà chỉ có ghi chép về Lương Tài Hầu Trần Văn Năng (1777-1835), người được vua Minh Mệnh phong làm Bình Khấu tướng quân chống lại quân Xiêm trong cuộc chiến Việt – Xiêm thời đó.

Từ lẽ trên nên chúng tôi đoán rằng người được dân miền Tây tôn thờ kia chính là Trần Văn Năng chứ không phải Trần Ngọc vì những lẽ sau:

1. Công là tước rất lớn trong 5 tước Công Hầu Bá Tử Nam dành phong cho đại thần, chỉ đứng sau Vương tước. Nếu Trần Ngọc quả thực là Quận Công thì chính sử phải có ghi chép về ông, không thể nào chỉ có trong huyền sử dân gian được. Và sự thực là chỉ có Lương Tài Hầu Trần Văn Năng sau khi mất vì có công bình Xiêm La mà được vua Minh Mệnh ban chức Thái Phó tước Tân Thành quận công.

2. Đành rằng hành động tuẫn tiết khi giữ lương của ông là anh hùng nhưng người viết trộm nghĩ vẫn chưa đủ để ông được phong tước Công. Nếu được phong Quận Công thì ông phải là người nổi tiếng ngang với Lê Chất, Nguyễn Văn Thành và Tả Quân Quận Công Lê Văn Duyệt, những người lập nên công lao to lớn với nhà vua và nắm quyền sinh sát cả một phương.

3. Trần Văn Năng mang chức Bình Khấu Tướng Quân – là người chỉ huy cao nhất trong trận thư hùng Vàm Nao lịch sử – cứu dân miền Nam khỏi họa xâm lăng. Vì lẽ đó nên lòng dân rất mến mộ và lập đền thờ.

Vì những lý do trên, nên chúng tôi tin rằng người đang được thờ ở đền Đốc Binh Vàng kia chính là tướng quân Trần Văn Năng – người có thật được ghi chép trong chính sử với vai trò to lớn nhất trong chiến công ở vùng này.

Trận quyết chiến ở Vàm Nao. (Ảnh minh họa: edoc.site)

Đại chiến Vàm Nao – trận Rạch Gầm Xoài Mút thời Nguyễn

Nói đến sông nước miền Nam, ai trong chúng ta có lẽ cũng tự hào về chiến thắng Rạch Gầm Xoài Mút của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ đã đánh tan quân Xiêm, khiến cho người Xiêm một thời gian dài “sợ quân Tây Sơn như sợ hổ”.

Nhưng một đế quốc to lớn đang lên như Xiêm La, lẽ nào lại bị một trận thua làm nhụt chí trong khi nước ta vẫn còn đang chiến tranh? Vì thế mà họ đã nhanh chóng thực hiện một cuộc chiến lớn khác ngay vào thời vua Minh Mệnh, và lần này quả thật có những lúc vận mệnh của miền Nam như “chỉ mành treo chuông”, đặc biệt trong những trận quyết chiến chiến lược như trận Cổ Hủ – Vàm Nao. Chúng ta hãy cùng nhau điểm sơ qua về trận chiến này.

Bối cảnh cuộc chiến: 

Cuối năm Quý Tỵ (1833), theo lời cầu viện của Lê Văn Khôi, vua Xiêm La sai tướng Chiêm Phi Nhã Chất Tri (Chao Phraya Bodin) và Chiêu Phi Nhã Phật Lăng (Phra Klang) đem 4 vạn quân cùng với 350 chiến thuyền, chia làm 5 đạo, bằng nhiều hướng đánh vào một số tỉnh ở miền Trung, Châu Đốc và Hà Tiên.

Tuy rằng cả 5 đạo quân cùng tiến, nhưng chủ đích của quân Xiêm La là cốt đánh Chân Lạp và Nam Kỳ, còn các đạo khác chỉ là để phân quân lực của nước Việt mà thôi. Vua Minh Mệnh hay tin phong cho Trần Văn Năng làm Bình khấu Tướng quân cùng Hiệp biện đại học sĩ Lê Đăng Doanh và Vũ lâm dinh Tả dực Thống chế Nguyễn Văn Trọng làm Tham tán đại thần với các tướng tá khác như Trương Minh Giảng, Nguyễn Văn Xuân… đi dẹp giặc.

Tháng 11 (âm lịch) năm đó, hơn 100 thuyền chiến của nước Xiêm La đánh chiếm Hà Tiên, rồi chia thành hai đạo đánh hạ luôn đồn Châu Đốc (An Giang). Cả hai tỉnh ấy đều thất thủ. Trước tình hình nguy cấp này, quan quân nhà Nguyễn tức tốc lập phòng tuyến ở Vàm Nao… Từ Châu Đốc, sau khi chuẩn bị xong, thủy quân Xiêm La theo ngã sông Tiền tiến xuống Vàm Nao. Nơi đây trở thành địa điểm then chốt của trận thư hùng chiến lược, nếu không chiến thắng ở đây thì nhà Nguyễn nhiều khả năng sẽ vỡ trận và mất miền Nam. Nhà văn Sơn Nam cũng viết về cuộc chiến này như sau:

“Trận thủy chiến trên Vàm Nao là trận ác chiến, mang tầm chiến lược quan trọng. Quân Xiêm dùng hỏa công, thả bè lửa, theo nước ròng (thủy triều rút ra biển) chảy xiết để đốt chiến thuyền quân Việt. Trận chiến kéo dài từ khoảng 3 giờ khuya đến 10 giờ trưa mới dứt. Nếu quân Việt không ngăn được, quân Xiêm sẽ xuống Sa Đéc rồi Rạch Gầm, Mỹ Tho…”.

Khúc sông Vàm nao. (Ảnh chụp từ google) 

Địa thế hiểm yếu của Vàm Nao: 

Sông Vàm Nao là một dòng sông tại tỉnh An Giang, nối sông Tiền và sông Hậu. Tuy chỉ dài có 7 km nhưng nó lại là dòng sông nổi tiếng linh thiêng đối với người dân miền Tây từ bao năm nay với đặc tính “nước xoáy tròn” vô cùng hung hiểm, là nơi xảy ra trận thủy chiến khốc liệt giữa quân Việt và quân Xiêm vào cuối năm 1833.

Theo lời kể của lão ngư Hai Lý – năm nay đã ngót 80 tuổi, gần trọn đời gắn bó với dòng Vàm Nao – thì : “Sông Vàm Nao có nhiều chỗ sâu đến mấy sợi dây thừng, tức khoảng 30m, nhiều đoạn nước xoáy, đủ sức nhấn chìm một chiếc ghe lớn. Dòng nước chảy xiết, đáy sông sâu với nhiều hang hốc nên Vàm Nao đã kéo theo các loài cá “khủng”, nặng hàng trăm ký từ sông Mê Kông tìm về trú ẩn như cá hô, cá tra dầu, cá vồ cờ, cá nược, cá đuối, cá đao, cá sấu”.

Lão ngư Hai Lý kể tiếp: “Ông bà tôi kể, gọi sông là Vàm Nao vì khi mùa lũ qua, ngã ba sông này nhìn nước chảy như thác cuộn, ghe tàu nào cũng khiếp, sợ bị lật nên nao lòng, thối chí, bởi thế mới có câu ‘Đố ai ve được con đò Vàm Nao’. Thời nhà Nguyễn, thấy tên gọi nghe buồn quá nên đã đổi tên sông là Thuận Giang, nhưng dù gọi thế nào nó vẫn mãi là sông tử thần. Những năm lũ lớn, ghe tàu qua ngã ba sông Vàm Nao hay bị sóng lưỡi búa đánh chìm, cứ cách vài ngày lại nghe văng vẳng tiếng khóc, kêu cứu”.

Xoáy nước lừng danh của con sông này vào năm 2017 còn nuốt chửng trong nháy mắt hàng chục căn nhà và cả một con đường giao thông liên xã.

Diễn biến chính của cuộc chiến:

Sau khi hai tỉnh An Giang và Hà Tiên bị thất thủ, đồn Châu Đốc bị giặc uy hiếp. Sau nhiều trận giằng co, Bình Khấu tướng quân Trần Văn Năng cùng các tham tán Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân, Hồ Văn Khuê… đã bàn bạc cùng nhau để dàn trận giáng cho giặc một đòn nặng ở trận quyết chiến Cổ Hủ và Vàm Nao nhằm thay đổi cục diện cuộc chiến.

Do đoán được quân Xiêm sẽ dùng hỏa công, quân ta liền thu hết các chiến thuyền về đậu ở hai bên bờ sông. Quản vệ Phạm Hữu Tâm đốc quân đánh bắn, từ giờ Dần đến giờ Tỵ, quân giặc chết nhiều. Thủy quân ta thuyền chiến nối nhau, lửa ở giữa sông không cháy lan lên được hai bên bờ. Khi bè lửa trôi qua rồi, quân ta thủy bộ đánh giáp lá cà. Quân Xiêm thua to. Chết mất một vị đại tướng chỉ huy là Phi Nhã Phật Lăng (còn gọi là PhraKlang Prayurawongse).

Sách “Minh Mệnh chính yếu” còn chép như sau:

“Giặc Xiêm dẫn binh thuyền hơn trăm chiếc, từ Thuận Cảng xuôi xuống, bày ngang giữa dòng sông để chống lại thuyền của quân ta, lại đánh đồn của ta đóng bên tả ngạn. Quản vệ giữ đồn là Phạm Hữu Tâm chống đánh, chém kẻ cầm đầu của giặc là Phi Nhã Khổ Lặc. Giặc dựng trại ngang đồn, ngày đêm dùng đại bác bắn phá. Ta chờ quân chi viện, nhưng giặc ở phía thượng nguồn bèn nhân đêm tối, thừa lúc nước ròng, noi theo hai bên tả hữu bờ sông, phóng lửa đốt thuyền quân ta, rồi giặc đem quân đến đồn phía tả ngạn mà đánh từ giờ Dần đến giờ Tỵ, quân giặc chết nhiều, thây chồng lên nhau. Giặc liền lui…”.

Sau nhiều trận giao tranh dữ dội, quan quân Việt thu phục được đồn Châu Đốc, thành Hà Tiên… rồi vượt sang biên giới đánh đuổi quân Xiêm La ra khỏi thành Nam Vang (nay là kinh đô vương quốc Campuchia).

Sau trận đại chiến Vàm Nao, quân Việt thừa thắng đẩy lui quân Xiêm về nước. (Ảnh minh họa: youtube.com)

Phần vì tuổi già, phần vì chinh chiến gian khổ, Trần Văn Năng lâm trọng bệnh phải giao binh quyền lại cho tướng Trương Minh Giảng để về nước trị bệnh. Thuyền chở Trần Văn Năng đến Bến Siêu (thuộc Cù Lao Tây, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp) thì ông qua đời (năm 1835), thọ 72 tuổi.

Nghe tin ông mất, vua Minh Mệnh ra lệnh phải mang thi hài ông về kinh an táng. Sau đó, truy tặng ông chức Thái phó tước Tân Thành quận công, cho bãi triều ba ngày và được nhà vua ban cho một bài thơ ngự chế.

Lời kết:

Từ sông Bạch Đằng nơi ghi dấu ấn của Tiền Ngô Vương diệt quân Nam Hán, Lê Hoàn khiến nhà Tống ôm hận rồi Trần Hưng Đạo bắt Ô Mã Nhi, đến chiến tuyến sông Như Nguyệt ghi dấu thái úy Lý Thường Kiệt lưu danh với bài thơ Nam Quốc Sơn Hà… Thế sự chầm chậm trôi, từng triều đại nối nhau qua đi, dòng thời gian vẫn vô tình phủ mờ đi công tích của các bậc tiền nhân, khiến cho hậu thế mỗi lần giở trang sử vẫn không khỏi bồi hồi.

Mỗi triều đại dù ít hay nhiều đều góp một phần to lớn vào sự hình thành của đất nước này, cái gọi là Tổ Quốc mà mỗi người dân Việt vẫn luôn tự hào. Và nhà Nguyễn cũng lại giống như vậy, cũng hoàn thành tốt hết mức có thể vai trò lịch sử của họ.

Họ trong suốt mấy trăm năm từ thời chúa Nguyễn với 9 chúa và 13 đời vua cùng nhiều lúc thăng trầm nhưng đã hoàn thành trách nhiệm. Và dẫu cho các sử gia sau này có đánh giá họ là “bán nước” hay “đầu hàng Pháp” gì đi nữa thì cũng không thể phủ nhận một điều là họ là triều đại đã mở mang bờ cõi rộng nhất trong suốt mấy ngàn năm qua.

Chính nhà Nguyễn đã đem miền Nam vào bản đồ và đã đổ máu chinh chiến vô số lần, chiến thắng nhiều kẻ thù sừng sỏ cỡ như Hà Lan (thời chúa Nguyễn Phúc Tần) và đến đế quốc Xiêm La (thời Minh Mệnh). Không có triều Nguyễn, sẽ không thể có miền Nam, một phần quan trọng nhất của nước ta. Vậy nên với vai trò là một triều đại mở cõi, cùng với những danh tướng vì nước quên thân như Trần Văn Năng, và các trận chiến đi vào sử sách như trận Vàm Nao, thì nhà Nguyễn sẽ luôn tồn tại trong lòng nhân dân mãi mãi về sau và làm nức lòng bao hậu nhân bất kể mọi lời khen chê.

Tĩnh Thủy

Truyền kỳ Khương Tử Nha: 40 năm tu Đạo, 72 tuổi xuất sơn chính là bậc Thần Tiên nơi trần thế

Khương Tử Nha sống một đời siêu thường, phi phàm thoát tục, được người đời ca ngợi là “Thiên Tề Chí Tôn”, là bậc Thần Tiên chốn nhân gian.

Khương Tử Nha vốn họ Khương tên Thượng, tự Tử Nha. Tổ tiên ông từng được phong đất Lã, do đó ông được gọi là Lã Thượng. Ông là công thần khai quốc triều Tây Chu, là người sáng lập ra văn hóa Tề. Ông cũng là một nhà thao lược, nhà quân sự và nhà chính trị. Các gia phái Nho, Đạo, Pháp, Binh, Tung hoành đều coi ông là nhân vật của gia phái mình, do đó ông được tôn là “Bách gia tông sư”.

Khốn cùng lao đao

Trước khi phò tá Chu Văn Vương, cuộc sống của Khương Tử Nha vô cùng lao đao, gập ghềnh nhiều gian nan. Năm 32 tuổi, do triều Thương chiến tranh không dứt, để tránh tai họa, ông lên núi tu Đạo. Trải qua 40 năm khổ tu, đến năm 72 tuổi ông mới xuất sơn. Sau khi xuất sơn, do tuổi cao, lại không có sở trường về nghề nào, ông đành tạm thời sống nhờ nhà bạn bè. Để mưu sinh ông đã phải đan sọt tre, hoặc xay tiểu mạch thành bột đem đi chợ phiên bán. Ông cũng đã mở quán ăn, đã bán trâu bò lợn dê, bói mệnh cho người ta… Nhưng lần nào cũng chẳng kéo dài được, đều thất bại. Do đó ông bị vợ chê cười, châm chọc.

Sau này, ông đảm nhiệm chức vụ Đại phu dưới tay Trụ Vương. Nhưng Trụ Vương hoang dâm tửu sắc, bạo ngược vô đạo, lệnh cho ông giám sát xây dựng Lộc Đài. Khương Tử Nha xem bản vẽ, phát hiện ra Lộc Đài cao 4 trượng 9 thước (khoảng 15 m), trên làm nhà quỳnh lầu ngọc, điện đài mái cong, còn dùng mã não lát thành lan can, đá quý trang sức rường cột.

Khương Tử Nha thấy Trụ Vương lao dịch bách tính, hoang đường vô độ như thế này, biết ngày mạt vận sẽ không xa. Thế là ông nói với vợ rằng: “Ta không nỡ thấy vạn dân chịu tai ương. Nương tử, nàng và ta đi Tây Kỳ, tương lai ắt sẽ có ngày hiển đạt”. Nhưng vợ của ông chê ông không có tài cán gì, khó khăn lắm mới được chức quan nhỏ mà cũng không làm tốt, nên không muốn ở cùng ông nữa. Khương Tử Nha bất đắc dĩ đành một thân một mình trốn đến Tây Kỳ (Tây Kỳ sau này là nước Chu).

'Thiên Tề Chí Tôn' Khương Tử Nha: 40 năm tu Đạo, 72 tuổi xuất sơn và những truyền thuyết về một bậc Thần Tiên nơi trần thế
Chu Văn Vương gặp được Khương Tử Nha khi ông đang ngồi câu cá. (Ảnh: sohu.com)

Cuối cùng, Khương Tử Nha đến núi Chung Nam tỉnh Thiểm Tây, thường xuyên đến sông Vị Hà câu cá. Vì lưỡi câu của ông thẳng nên đã 3 năm mà ông không câu được bất kỳ con cá nào. Nhưng thật thần kỳ là, sau này không những ông đã câu được một con cá to, mà còn phát hiện ra một cuốn binh thư trong bụng cá.

Lúc này, Chu Văn Vương đến vùng sông Vị Hà đi săn, gặp Khương Tử Nha hơn 80 tuổi ngồi câu bên sông. Sau khi đàm đạo, Văn Vương Thấy ông chính là người hiền tài, võ có thể an bang, văn có thể trị quốc mà từ Thái Công Đản Phụ cho đến nay đang mong ngóng. Thế là Chu Văn Vương vui mừng nói: “Thái Công ta mong ông đã lâu rồi”. Do đó Khương Tử Nha có biệt hiệu “Thái Công Vọng”, thường gọi là Khương Thái Công. Sau này ông phò tá Chu Võ Vương tiêu diệt nhà Thương, nhiều lần lập kỳ công, được phong đất Tề.

Phò tá nhà Chu

Chu Công là em trai của Chu Võ Vương. Sau khi Khương Tử Nha được phong đất Tề, 5 tháng sau ông trở lại báo cáo với Chu Công tình hình đất Tề. Chu Công hỏi ông: “Sao ngài lại nhanh chóng trở lại báo cáo như thế này?”. Khương Tử Nha trả lời: “Bỉ chức đơn giản hóa lễ tiết quân thần, tất cả đều thuận theo tình hình phong tục ở đó mà làm, do đó đất Tề đã nhanh chóng đi vào quy củ”. Con trai Chu Công là Bá Cầm được phong ở đất Lỗ. Ba năm sau Bá Cầm trở lại báo cáo tình hình, Chu Công hỏi: “Tại sao chậm như thế này mới về báo cáo?”. Bá Cầm đáp: “Thay đổi tập quán ở đó, cách tân phép tắc lễ nghi ở đó, ít nhất cũng phải 3 năm mới thấy có hiệu quả, do đó con trở về muộn”. Chu Công nghe xong than rằng: “Chính lệnh chỉ có bình hòa thì dễ thực hiện, bách tính mới có thể an cư lạc nghiệp, quốc gia mới có thể thịnh trị yên ổn lâu dài”.

Phò tá nhà Chu
Khương Tử Nha không chỉ xây dựng thể chế chính trị hoàn chỉnh cho nhà Chu, giúp Chu Vũ Vương diệt Trụ, ông còn lưu lại cho hậu thế những những tác phẩm binh pháp kinh điển. (Ảnh: weibo.com)

Khương Tử Nha đã nói trong sách “Lục thao” mà ông trước tác rằng: “Thiên hạ không phải là thiên hạ của một người, mà là thiên hạ của người trong thiên hạ”. Ông chủ trương quốc quân (vua) phải thi hành nhân nghĩa, tu dưỡng đạo đức, không được vì mình mà tổn hại dân. Như vậy nhân dân mới có thể chung sức đồng lòng, cùng trên con thuyền với quốc quân, quốc gia mới càng ngày càng cường thịnh.

Khương Tử Nha không chỉ xây dựng thể chế chính trị hoàn chỉnh, nghiêm cẩn, chi tiết cho nhà Chu, ông còn đặt nền móng vững chắc cho bá nghiệp cho Tề Hoàn Công và Quản Trọng “chín lần hợp chư hầu, thiên hạ quy về một mối”. Tư tưởng quân sự của ông trong các trước tác “Lục thao”, “Âm phù kinh”, “Thái Công binh pháp”, “Thái Công kim quỹ”… đều có luận thuật. Các nhà binh pháp nổi tiếng như Tôn Vũ, Quỷ Cốc Tử, Hoàng Thạch Công, Gia Cát Lượng… đều hấp thu tinh hoa trong các trước tác như “Lục thao”, đồng thời đã phát huy mở rộng, do đó họ đều lưu danh bất hủ trong lịch sử.

Thiên Tề Chí Tôn Khương Tử Nha

Theo sử sách ghi chép, Khương Tử Nha sống 139 tuổi. Tại sao ông lại có thể sống lâu như vậy, hơn nữa lại có trí huệ lớn như vậy? Được biết người tu luyện sau khi đạt đến một cảnh giới nào đó, có thể khai mở trí huệ, cũng có thể kéo dài tuổi thọ. Khương Tử Nha trải qua 40 năm khổ tu, không chỉ kéo dài tuổi thọ, còn ngộ được những chân lý vũ trụ mà người thường không ngộ được, sau đó lại trải qua mười mấy năm rèn luyện gian khổ, cuối cùng đã thành tựu sự nghiệp vĩ đại, công lao to lớn và những trước tác to lớn tinh thâm, có nguồn gốc sâu xa.

Thiên Tề Chí Tôn Khương Tử Nha
Cuộc đời Khương Tử Nha mang nhiều điển tích thần thoại, do đó các triều đại sau này đều xây dựng đền chùa cho ông, để người đời sau chiêm bái. (Ảnh: wikipedia.org)

Do cuộc đời của Khương Tử Nha siêu thường, phi phàm như thế này, có thể nói chỉ có Thần Tiên mới có thể làm được. Do đó người đất Tề gọi ông là “Thiên Tề Chí Tôn”. Đạo gia cũng lưu truyền rằng ông đã tu luyện viên mãn thành Tiên rồi. Trong “Phong Thần diễn nghĩa” đời Minh, đã rất minh xác đưa ông vào hàng ngũ Thần Tiên. Các triều đại cũng đều xây dựng đền chùa cho ông, để người đời sau chiêm bái.

Theo Soundofhope
Nam Phương biên dịch

Lê Thánh Tông – vị hoàng đế đến từ Tiên giới (P.1): Tiên đồng chuyển sinh nơi trần thế

Là dân Việt Nam, hẳn không ai là không biết đến ông, người được mệnh danh là vị vua hiền minh nhất trong lịch sử phong kiến nước ta. Dưới thời ông trị vì, nước nhà thịnh trị, lân bang thần phục, quân sự hùng mạnh với binh uy áp chế bốn cõi, ngay cả nhà Minh cũng không dám vọng động. Trí tuệ của ông gồm cả quân sự, chính trị, kinh tế, thi ca…, không gì không thông hiểu, không gì không làm được. Vì sao ông có thể thành tựu được nhiều việc vĩ đại đến vậy?

“Quân quyền Thần thụ”, thiên tử chính là con Trời, là thụ mệnh Trời mà cai trị nhân gian, nên một vị chân mệnh thiên tử lẽ tự nhiên phải có trí tuệ và hiểu lòng Trời thì mới có thể giữ cho triều đại của mình thịnh trị lâu dài. Lê Thánh Tông chính là một vị vua như thế. Ông tuân theo Đạo Trời, tôn kính Thần Phật, nên triều đại của ông là triều đại cường thịnh nhất và cũng là giai đoạn ghi nhận nhiều giai thoại liên quan đến Thần Tiên và linh giới nhất. Tương truyền, Lê Thánh Tông là tiên đồng thác sinh từ thiên giới xuống trần gian trị vì nước Nam. Trong loạt bài này, chúng ta hãy cùng nhau tìm về gốc gác Thần Tiên của ông, xem có thấu hiểu được thiên cơ thú vị nào không nhé.

Phần 1: Tiên đồng chuyển sinh nơi trần thế

Trong thuật Lý Số bí truyền, tên và hiệu của một người chính là phản ánh cả tiền kiếp và tương lai của người ấy, thể hiện vận mệnh đã được định trước. Tên, hiệu và niên hiệu của vua Lê Thánh Tông dường như ẩn chứa những huyền cơ về nguồn gốc Tiên giới của ông…

Nguồn gốc Thần Tiên của Lê Thánh Tông được ghi lại trong sử như sau:

“Lê Thánh Tông (chữ Hán: 黎聖宗; 25 tháng 8 năm 1442 – 3 tháng 3 năm 1497) là con trai thứ tư của Lê Thái Tông. Mẹ của ông là Ngô Thị Ngọc Dao, người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa. Cha bà là Ngô Từ, gia thần của Lê Thái Tổ, làm đến chức Thái bảo. Chị gái Ngô Thị Ngọc Dao tên Xuân, vào hầu Lê Thái Tông ở hậu cung. Ngô Thị Ngọc Dao theo chị vào nội đình, vua Lê Thái Tông thấy liền gọi vào cho làm cung tần.

Tháng 6, năm Đại Bảo thứ nhất (1440), Ngô thị nhập cung khi 14 tuổi, được phong làm Tiệp dư (婕妤), ở tại cung Khánh Phương. Sinh thời Ngô Tiệp dư sùng Phật giáo thường cầu tự, một hôm mộng thấy Thượng đế ban cho một vị tiên đồng, bèn có mang. Bà sinh Lê Tư Thành vào ngày 20 tháng 7 âm lịch (25 tháng 8 dương lịch) năm Đại Bảo thứ 3 (1442)”.

Cái tên nói lên nguồn gốc - Tiên đồng chuyển sinh nơi trần thế
Một hôm Ngô Tiệp mộng thấy Thượng đế ban cho một vị tiên đồng, bèn có mang. Bà sinh Lê Tư Thành vào ngày 20 tháng 7 âm lịch (25 tháng 8 dương lịch) năm Đại Bảo thứ 3 (1442)”. (Ảnh: dkn.tv)

Do có nguồn gốc cao quý nên vẻ ngoài của ông đã khác thường ngay từ nhỏ, “Đại Việt sử ký toàn thư” miêu tả: “Thiên tư tuyệt đẹp, thần sắc khác thường, vẻ người tuấn tú, nhân hậu, rạng rỡ, nghiêm trang, thực là bậc thông minh xứng đáng làm vua, bậc trí dũng đủ để giữ nước”.

Trong thuật Lý Số bí truyền, thì tên và hiệu của một người chính là phản ánh cả tiền kiếp và tương lai của người ấy, thể hiện vận mệnh đã được định trước. Vậy chúng ta hãy cùng nhìn vào tên của Thánh Tông và phân tích, biết đâu chúng ta có thể nhìn thấy nguồn gốc Tiên giới của ông.

Tên hiệu của Lê Thánh Tông tiết lộ căn cơ tu luyện

Ông có tên húy Lê Tư Thành (思誠), tên sử dụng trong các văn kiện ngoại giao với Trung Quốc là Lê Hạo (黎灝), hiệu Thiên Nam động chủ (天南洞主), Đạo Am chủ nhân (道庵主人), Tao Đàn nguyên súy (騷壇元帥). Ông có 2 niên hiệu là:

  • Quang Thuận (光順: 1460 – 1469)
  • Hồng Đức (洪德: 1470 – 1497)

Chữ Tư 思 trong Tư Thành gồm có chữ Điền trên chữ Tâm. Các trường phái tu Đạo gọi vùng bụng dưới là “đan điền”, khi tu luyện thì quán tưởng hết tâm ý vào đó lâu ngày sẽ thành đan, tức kết đan. Và chữ Thành 誠 có nghĩa là “thành tâm” tức là phải tu dưỡng tâm cho thành kính, thể hiện định lực và chính tín vào Thần của người tu. Tách chữ “Thành” này ra ta có bộ Ngôn 言 và chữ Thành 成 của “thành tựu”. Vậy phàm là những bậc chân tu muốn thành Đạo thì phải tu nơi Thân Khẩu Ý, mà quan trọng nhất là tu khẩu, là nơi phát ra Ngôn (lời nói).

Ghép 2 chữ lại thì ta thấy, rất có thể ông là một người kiếp trước từng tu hành, nhiều khả năng thuộc về Đạo gia.

Tên ông dùng trong văn kiện ghi là Lê Hạo 黎灝. Chữ Hạo này có nghĩa là to lớn, hay dùng trong chữ “hạo thiên”, nghĩa là bầu trời rộng lớn. Chữ gồm bộ Thủy 水 và chữ Cảnh 景 (gồm chữ Nhật 日, chữ Kinh 京 ghép lại) và chữ Hiệt 頁 nghĩa là đầu não. Khiến ta hình dung ra cảnh biển to lớn với mặt trời chiếu rọi nằm trong đầu não của một người.

Đạo Gia giảng thân thể người là một tiểu vũ trụ, và hơn thế nữa nơi trung tâm của đầu não là nơi chứa nê hoàn cung, là một nơi then chốt bậc nhất của tu luyện.

Nay nơi đầu lại có cảnh tượng mặt trời hùng vĩ trên biển cả mênh mông, chẳng phải là cảnh tượng người tu hành khai ngộ hay tu thành đến một cảnh giới cao nào đó là gì?

Và những người tu thành theo thuyết xưa sẽ được Thượng đế phong tước ở trên trời, liệt vào hàng Tiên ban. Vậy phải chăng các tên hiệu tiếp theo của ông cũng phản ánh điều đó?

Tên hiệu của Lê Thánh Tông tiết lộ căn cơ tu luyện
Các tên của vua Lê Thánh Tông đều có nội hàm rất sâu xa. (Ảnh: pinterest.com)

Lê Thánh Tông có các hiệu sau:

  • Thiên Nam động chủ (天南洞主): nghĩa là động chủ của trời Nam.
  • Đạo Am chủ nhân (道庵主人): nghĩa là chủ nhân của am tu Đạo.
  • Tao Đàn nguyên súy (騷壇元帥): nghĩa là thủ lãnh của Tao Đàn (gồm có 28 người tài giỏi nhất cả triều đình về văn thơ, con số 28 này giống với 28 vì tinh tú trong thiên văn học cổ đại Trung Hoa).

Các thánh vương trị vì thiên hạ nổi danh trong truyền thuyết tất cả đều là người tu Đạo (Nghiêu Thuấn, Thần Nông, Phục Hy, Hoàng Đế hay gần nhất như Lý Thái Tổ từ nhỏ cũng là đệ tử chân truyền của Phật môn) hay là người rất ưa chuộng Đạo thuật tu hành. Vì thế có thể nói rằng quốc gia chính là nơi tu luyện của vị đế vương đó, chính là động thiên phúc địa của bậc chân nhân đang đóng vai hoàng đế. Có lẽ vì thế mà các hiệu của Lê Thánh Tông hoàn toàn giống như hiệu của các Đạo sĩ tu Tiên nơi động đá (Thiên Nam Động Chủ, Đạo Am Chủ Nhân), hay là chủ của các tinh tú trong nhị thập bát tú.

Như vậy, giai thoại ở trên ghi nguồn gốc ông là tiên đồng được Thượng đế phải xuống trần gian có lẽ không phải là không có lý?

Niên hiệu của Lê Thánh Tông thể hiện trí tuệ của bậc tu hành đạt Đạo

Chưa hết, khi ông lên ngôi thì lại lấy 2 niên hiệu là Quang Thuận 光順 và Hồng Đức 洪德.

Niên hiệu nhằm thể hiện uy quyền cũng như năng lực của 1 vị hoàng đế trị dân.

Quang Thuận có thể hiểu nghĩa rộng là nền chính trị sáng rõ, bốn phương quy thuận (“quang thiên hóa nhật, tứ phương thuận chi”). Nhưng chúng ta đang tìm hiểu về gốc tích của Lê Thánh Tông nên cái tên này sẽ còn mang hàm nghĩa khác.

Chữ Quang 光 gồm có bộ Hỏa 火 ở trên và chữ Nhân 儿 ở dưới ghép thành, phải chăng người cầm ngọn lửa giơ cao trên đầu là Quang (sáng sủa)? Nhưng ánh sáng này không phải lửa thường, mà chính là trí huệ sáng suốt do tu luyện mà thành. Cũng có ý nghĩa là đức độ của bậc tu hành đó sáng soi khắp cõi cho nhân dân noi theo (Thuận). Cũng như Phật gia có câu: “Phật quang phổ chiếu, lễ nghĩa viên minh”.

Sang đến thời Hồng Đức là đỉnh cao của nền đại trị nhà Lê, Hồng Đức nghĩa là đức lớn trải khắp thiên hạ. Vậy người thế nào có thể có đức lớn nhường ấy để thiên hạ nương nhờ? Chính là người tu hành có thành tựu nên mới xứng đáng với ngai vị cửu ngũ chí tôn mà đem lại phúc lành cho muôn người trong nước mà thôi.

Lời bàn:

Vì sao Ngọc Hoàng Đại Đế phải tu hành 3200 kiếp, trải thêm vô số kiếp tích đức mới có thể chính thức lên ngôi Thiên Đế mà cai quản trời đất? Vì ngôi vị càng tôn quý dành cho người có đức càng lớn. Vì đức lớn đó phải trải khắp trời đất để triệu tỷ muôn ức vô số chúng sinh nương nhờ nơi đó mà sinh tồn. Nếu chẳng đủ đức thì chẳng phải trời sụp đất nứt hay sao?

Niên hiệu của Lê Thánh Tông thể hiện trí tuệ của bậc tu hành đạt Đạo
Thời vua Lê Thánh Tông, nước Đại Việt là một trong những nước lớn mạnh nhất trong khu vực Đông Nam Á, nguồn gốc sinh mệnh của ông cũng không hề tầm thường. (Ảnh: pinterest.com)

Thiên tử cũng vậy, vốn là thay mặt Thiên Đế cai trị nhân gian. Nên muốn ngồi lên ngai cao, muốn thiên hạ thái bình, quốc gia thịnh trị phải là đem đức của mình trải khắp thiên hạ thì mới làm được. Không phải bậc Thánh thì ai có thể làm thế. Do đó mới nói, thánh vương chính vị là vì thiên hạ trước chứ có phải vì bản thân đâu. Vì phúc trạch họ Lê sâu dày và thành tâm chính ý nên Thiên Đế phái tiên đồng hầu cận chuyển sinh xuống trời Nam. Vừa là phúc báo của dân Việt đã trải nhiều năm chiến chinh tao loạn, vừa là để tuyên dương cái Đạo và Đức của trời đất vậy. Thật là đáng kính thay.

Vậy mà ngày nay lắm kẻ ngôi cao chưa ấm chỗ đã nghĩ kế hút máu dân nghèo, giở trò quyền lực mà bòn rút quốc khố để vun vén cho túi tham không đáy. Hay đâu người làm Trời nhìn, từng tư từng niệm xấu tốt, mỗi hào mỗi tội đều ghi rõ trong sổ âm ty. Khi nhắm mắt trăm năm mới biết đời người là giấc mộng. Gia tài kia có khác chi đất bùn. Mỗi đồng tiền bòn rút là một lần nợ nghiệp tính lên người. Thân lại chẳng biết kiếp nào trả hết nợ nghiệp để mà siêu sinh đây. Quả thực đáng thương thay.

Tĩnh Thuỷ

Nổi tiếng xấu xí ‘ma chê quỷ hờn’, nhưng người phụ nữ ấy đã trở thành bậc mẫu nghi thiên hạ

Trong ấn tượng của nhiều người, phi tần của của vua chúa luôn là những giai nhân tuyệt sắc. Nhưng thực tế lịch sử chứng minh rằng có những bà hậu, bà phi vẫn được đức vua hết mực sủng ái cho dù sở hữu vẻ ngoài không hề nổi bật, thậm chí xấu đến “ma chê quỷ hờn”. 

Lịch sử có ghi chép về một kì nữ tên gọi Chung Li Xuân (còn gọi là Chung Vô Diệm), diện mạo xấu xí nhưng sự hiền đức, nhân hậu và tài năng của bà lại đã lưu truyền mãi cho hậu thế.

Tự tiến cử vào cung

Liệt nữ truyện – Biện thông” kể rằng, vào thời Chiến Quốc, ở Vô Diêm Ấp nước Tề có một người con gái tên gọi Chung Li Xuân, tướng mạo vô cùng xấu xí, trán cao, mắt sâu, lưng dài, chân thô, mũi hếch, xương cổ nhô ra, cổ to, tóc thưa, bụng phệ, lưng gù, da đen đúa…

Tuổi đã bốn mươi mà không gả được cho ai, tuy nhiên nàng không vì thế mà lấy làm buồn rầu. Ngược lại khẩu khí lại càng làm người ta kinh ngạc: “Nếu không ai dám lấy ta, vậy thì để Tề Vương tới rước ta vậy”.

Chẳng ngờ rằng, cái suy nghĩ tưởng chừng hoang tưởng đó bỗng nhiên có thể trở thành hiện thực. Khi ấy vừa hay là lúc Tề Tuyên Vương đăng bảng chiêu nạp hiền tài, cầu người giỏi hiến kế trị nước.

Chung Li Xuân nghe chuyện liền muốn tới diện kiến đức vua, trước bái kiến Tuyên Vương, sau là tự mình tiến cử, muốn tới quản lý hậu cung cho đức vua, tự cho rằng mình là người phụ nữ tài giỏi nhất nước Tề.

Một hôm Tuyên Vương đang uống rượu giữa bầy cung nga xinh đẹp, vui chơi ở Tiệm Đài thì được tin có người xin vào yết kiến. Người đó tự xưng là người con gái không lấy được chồng của nước Tề, nghe nói Tề Vương là người hiền minh, xin vào hậu cung lo việc quét tước cho vua.

Các cung nữ nghe xong bụm miệng cười, Tuyên Vương nghe tâu cũng tức cười nhưng vì lòng hiếu kỳ, ra lệnh cho vào yết kiến. Tuyên Vương hỏi: “Xú phụ! Ngươi sao không chịu ở yên nơi quê nhà mà tự tiến lên vua. Phải chăng ngươi có tài nghệ cao kỳ gì?“.

Vô Diệm đáp: “Thưa bệ hạ! Tôi không dám nói kì tài cao nghệ, chỉ học được thuật ẩn hình, xin vì đại vương hiến chút nghề mọn để giúp vui“. Nói xong liền ẩn mình, không ai trông thấy nữa.

Chung Vô Diệm tự tin nói: “Nếu không ai dám lấy ta, vậy thì để Tề Vương tới rước ta vậy”. (Ảnh: ent.163.com)

Một lời nói chỉ ra 4 cái nạn của quốc gia

Kỹ năng ẩn mình của Chung Vô Diệm thật là lợi hại, bỗng nhiên làm Tuyên Vương cảm thấy vô cùng hứng thú, liền giữ nàng lại trong cung. Hôm sau Tuyên Vương lại cho triệu bà đến.

Vô Diệm không nói gì, chỉ trừng mắt, cắn răng, giơ tay, vỗ gối… làm 4 động tác và kêu liên tiếp 4 tiếng “hiểm”. Tuyên Vương hỏi ý nghĩa ra sao? Vô Diệm đã chỉ thẳng ra 4 nạn lớn của nước Tề như sau:

1. Tuyên Vương năm nay đã hơn bốn mươi tuổi mà vẫn không lập người kế vị, cả ngày chỉ ăn chơi ham mê tửu sắc, không coi trọng việc giáo dục con cái. Nếu như Tuyên Vương gặp phải điều gì bất trắc mà không có người kế vị, quốc gia tất sẽ đại loạn.

2. Nhà vua ham thích xây dựng nhiều cung điện, đền đài xa hoa lãng phí, ham thú chơi bời chính là hao tổn tài sản của quốc gia.

3. Những người hiền đức đều đã ẩn cư trong núi sâu rừng già. Bao quanh Tuyên vương lúc này chỉ là những kẻ tiểu nhân a dua nịnh nọt, làm cho người không nghe thấy những lời nói tận trung với nước, chỉ được nghe những lời thêu dệt gièm pha.

4. Tuyên Vương suốt ngày lún sâu vào đam mê tửu sắc, ăn chơi đàng điếm, không quản nội chính lại coi nhẹ ngoại giao. Nay nước Tề có sự uy hiếp của Tần ở phía Tây, Sở phía Nam, nhưng bên cạnh người chỉ có lũ tiểu nhân a dua nịnh bợ mà không có người tài đức trợ giúp. Nếu cứ để như vậy sẽ làm loạn thù trong giặc ngoài thử hỏi không nguy hiểm sao được?

Vô Diệm chỉ là một người phụ nữ bình dân mà chỉ trong vài câu nói ngắn ngủi thực đã điểm trúng yếu huyệt của Tề Vương. Bất giác không kìm nổi lòng, Tuyên Vương thở dài mà nói: “Thật đáng tiếc, những lời nói này của cô nương hôm nay lần đầu tiên quả nhân mới nghe thấy”.

Tề Tuyên Vương từ đó nghe lời can gián, từ bỏ yến nhạc, phá Tiệm đài, trừ tôi nịnh…, lại lập Chung Vô Diệm làm Vương hậu. Với sự phụ tá của bà, nước Tề trở nên ngày càng cường thịnh.

Vô Diệm là một trong “Ngũ xú Trung Hoa”, tức là 5 người đàn bà xấu xí nhất thời cổ đại. Họ đều là những kì nữ tài danh, giỏi giang bất chấp nhan sắc ở vào hạng tầm thường, thậm chí còn có phần “ma chê quỷ hờn”.

Các bậc minh quân xưa khi kén hoàng hậu thì vấn đề cân nhắc trước tiên chính là đức hạnh, khí chất chứ không phải dung nhan, diện mạo bên ngoài. Phong hậu, phong phi chính là một trong những đại sự quan trọng nhất trong việc kiến thiết vương triều.

Bậc “mẫu nghi thiên hạ” phải là bộ mặt đại diện cho hoàng tộc, cho quốc gia, có thể thay đức vua mà an định lòng người. Nếu đức vua trị quốc bằng nghiêm luật, pháp hình thì hoàng hậu trị quốc bằng đức hạnh.

“Mỹ nhân”, hay người đẹp, đầu tiên phải đẹp từ trong tâm hồn. Đó mới là cái gốc của mọi nhan sắc. (Ảnh: chuansong.me)

Kén vợ coi trọng hiền đức

Vẻ đẹp của một người phụ nữ không phải từ phấn sáp, từ tô ngọc chuốt hồng, điểm trang. Vẻ đẹp thật sự xuất phát từ ý chí kiên cường và một nội tâm mạnh mẽ.

Người phụ nữ xưa có tứ đức: “Công, dung, ngôn, hạnh”, đi đứng đều có nết riêng. Ngay cả từ “mỹ nhân” cũng có một nội hàm sâu sắc hơn là chỉ vẻ đẹp bên ngoài. “Mỹ nhân”, hay người đẹp, đầu tiên phải đẹp từ trong tâm hồn. Đó mới là cái gốc của mọi nhan sắc.

Người xưa có câu: “Lấy vợ coi trọng hiền đức“. Câu chuyện kén vợ sau đây sẽ cho bạn một hình dung rõ ràng hơn.

Có một vị quốc vương trẻ tuổi tổ chức cuộc thi kén vợ hiền. Rất nhiều tiểu thư nhà giàu xinh đẹp nô nức đến dự. Ngoài ra còn có cả một cô gái xuất thân bần hàn, con nhà nông dân cũng đến dự thi.

Câu hỏi thứ nhất mà vị quốc vương đưa ra là: “Khoảng cách giữa nơi mà mặt trời mọc và nơi mà mặt trời lặn là bao xa?

Các tiểu thư bối rối, im lặng. Cô gái nông thôn kia bình tĩnh đáp: “Thưa quốc qương! Khoảng cách ấy đúng bằng một ngày!”.

Quốc vương nghe xong lấy làm tâm đắc, gật gù, lại đưa ra câu hỏi thứ hai: “Khoảng cách giữa trời và đất là bao xa?

Liền lúc đó, một tiểu thư con một vị đại thần trả lời ngay: “Thưa quốc vương! Thần thiếp nghe nói có câu rằng: “Cửu vạn lý trường thiên”. Nên thần thiếp nghĩ, khoảng cách giữa trời và đất là 9 vạn dặm!

Một tiểu thư con nhà giàu có cũng tiếp lời: “Thưa quốc vương! Đường Tăng từng đi qua mười vạn tám ngàn dặm để lấy kinh, nên thần thiếp nghĩ đây chính là khoảng cách giữa trời và đất!

Lúc này, cô gái nông thôn bước ra từ tốn nói: “Thưa quốc vương! Dân nữ nghĩ rằng khoảng cách giữa trời và đất đúng bằng khoảng cách giữa mở mắt và nhắm mắt!”.

Quốc vương vừa cười vừa nói: “Đúng vậy! Nàng nói rất đúng”. Các thiên kim tiểu thư khác trong lòng cảm thấy vô cùng lo lắng.

Cuối cùng, quốc vương lại ra một câu hỏi: “Khoảng cách giữa lời nói thật và lời nói dối là bao xa?

Câu hỏi vừa đưa ra, tất cả mọi người đều bối rối vô cùng, xì xầm hỏi lại nhau rằng: “Giữa nói thật và nói dối còn có đơn vị khoảng cách sao?

Cô gái nọ không chút do dự nói: “Thưa quốc vương! Khoảng cách ấy đúng bằng khoảng cách giữa hai lỗ tai! Khi dùng một tai nghe lời nói từ một bên thì thường sẽ nghe được lời nói không thật. Dùng cả hai tai lắng nghe ý kiến bất đồng thì mới có thể nghe được lời nói thật!“.

Quốc vương vội vã đứng dậy tiến lại gần cô gái, đoạn vui mừng tuyên bố với chúng thần dân rằng đây chính là hoàng hậu tương lai của vương quốc.

Vậy bạn đã hiểu tại sao Chung Vô Diệm xấu xí lại được Tề vương hết mực sủng ái đến thế chưa?

Bình Nhi

Vì sao Tào Tháo phải chịu tiếng oan là kẻ gian thần độc ác suốt 2000 năm?

Không ai mới sinh ra đã là anh hùng, và đương nhiên lại càng không thể là gian hùng ngay được. Dù là gian hùng hay anh hùng, để có thể đóng một trong hai vai thì không phải ai cũng làm nổi. Tào Tháo chính là một vai diễn đặc biệt như thế. 

Có câu “Thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, phàm một sự việc gì xảy ra mà có thể thành công được (dù là tốt hay xấu) đều phải đạt được cả 3 yếu tố này. Người ta nói “loạn thế xuất anh hùng”, đúng. Vì anh hùng chỉ có thể xuất sinh khi thời thế đang loạn lạc, đất nước suy bại, trăm họ lầm than. Cần có bậc kỳ tài, thao lược xuất chúng, ý chí hơn người, hoặc võ nghệ siêu quần… vì quốc gia mà phó xuất, vì nhân dân mà hy sinh thì mới có thể hoàn thành đại nghiệp, lưu danh sử sách.

005P8PpUzy6ZVixacFT95&690
Tạo hình Tào Tháo trong phim Tam Quốc diễn nghĩa 1994 (Ảnh: youtube).

Vậy còn “loạn thế xuất gian hùng” thì sao? Cũng đúng. Vì “gian hùng” khác với “gian thần”. Gian hùng là anh hùng nhưng sử dụng thủ đoạn để đạt được mục đích, nhưng thủ đoạn này không phải vì nhu cầu cá nhân, ích kỷ mà vì nghĩ đến xã tắc, đến đại cục mà đành chọn lấy nó.

Còn gian thần là một kẻ gian ác, hoàn toàn chỉ vì mình, chẳng đoái hoài gì tới giang sơn đất nước, chỉ nhăm nhăm vun vén cho bản thân, làm hại người khác không từ thủ đoạn, những kẻ như thế nhất định phải trừ khử. Tào Tháo chỉ là một “gian hùng”, chứ không phải một “gian thần”.

Từ năng thần thất vọng

Tào Tháo đã từng là thần tử năng nổ tích cực, đã từng bất chấp nguy cơ bị giáng chức để dâng sớ tâu bày điều hay lẽ phải, bảo vệ người ngay chính, ngăn cản kẻ xấu. Chỉ tiếc là mọi nỗ lực can gián đều thất bại. Hoạn quan tiếp tục lộng hành, làn sóng cải cách bị ngăn chặn.

Hán đế thậm chí còn tuyên bố: “Kẻ nào tấu trình về việc sửa sang chính trị tại các châu huyện mà không hiệu nghiệm, khiến dân chúng phao ngôn nhảm nhí đều bị bãi miễn chức vụ”. Phản ứng của triều đình đích thực làm Tào Tháo thất vọng. Tam Quốc Chí mô tả là Tháo “biết không thể khuông phò chính sự được, bèn chẳng dâng lời can gián nữa”. Không lâu sau, dù được thăng làm Thái thú Đông quận, Tháo từ chối mà “cáo bệnh về quê”.

Triều đình Đông Hán cũng đến hồi vô phương cứu chữa. Sau khi Hán Linh đế chết, Đại tướng quân Hà Tiến bị hoạn quan giết, đến lượt Đổng Trác vào kinh, phế Thiếu đế lập Hiến đế, sau lại giết luôn Thái hậu và Thiếu đế. Tôn nghiêm của Hán triều đã mất sạch.

Năm 189 Tào Tháo về đến Trần Lưu, bèn “phát tán gia tài, tập hợp nghĩa binh, chuẩn bị tru diệt Trác”. Đến năm 190 thì Tào Tháo đã có mặt trong liên quân Quan Đông của Viên Thiệu và 18 lộ chư hầu, cùng nhau thảo phạt nghịch tặc Đổng Trác.

Untitled-1
Tào Tháo gia nhập liên quân do minh chủ Viên Thiệu đứng đầu, thảo phạt Đổng Trác (Ảnh: youtube).

“Tru diệt nghịch tặc, phục hưng xã tắc” tưởng đâu là chuyện cao cả, phàm ai là phe chính nghĩa cũng đều muốn làm, nhưng hóa ra không phải. Liên quân tụ họp xong, ngoài Tào Tháo và Tôn Kiên, không có một ai động binh hết.

Tào Tháo binh ít tướng thiếu, thua về tay Từ Vinh (tướng của Đổng Trác), đến khi quay về đại bản doanh liên quân chỉ thấy “chư quân binh lực hơn chục vạn, ngày ngày tụ họp uống rượu, chẳng mưu tính tiến thủ gì”.

Liên quân lúc này lộ rõ bản chất tự tư, chẳng những khước từ mưu kế của Tào Tháo, lại quay sang tàn hại lẫn nhau hòng chiếm lấy địa bàn cho riêng mình. Thứ sử Duyện Châu Lưu Đại giết chết Thái thú Đông quận Kiều Mạo. Thái thú Bột Hải Viên Thiệu bức hiếp Ký Châu mục Hàn Phức, cướp đoạt Ký Châu.

Triều đình Đông Hán làm Tào Tháo thất vọng. Nhưng những con người hiện tại của Hán triều mới thật sự khiến Tào Tháo tâm tàn ý lạnh. Lúc liên quân dùng dằng không tiến, Tháo đã từng thẳng thắn phê bình: “Các ông ôm mối ngờ vực không chịu tiến, làm mất lòng trông ngóng của thiên hạ, ta trộm vì các ông mà xấu hổ!”.

Nhưng khi liên quân quay sang xâu xé nhau vì tư lợi, thì Tào Tháo không chỉ xấu hổ cho họ, mà còn nhận ra rằng, không thể trông đợi được bất cứ ai trong số các “thần tử Hán triều” đó, bèn bỏ đi, nuôi chí một mình.

youtu.be-c9zhJSn4wLc (14)
Quá thất vọng về cái gọi là “liên quân” tru diệt nghịch tặc, Tháo quyết định ra đi (Ảnh: youtube).

Đến “gian hùng” thời loạn 

Tam Quốc bao quát cả một thời kỳ lịch sử gần một thế kỷ (từ 184 đến 280). Tại đó, 3 nước Ngụy, Thục, Ngô cùng nhau tranh đoạt thiên hạ. La Quán Trung viết “Tam Quốc diễn nghĩa” với quan điểm “chính thống” phò Hán.

Với ông, họ Tào không phải dòng dõi họ Lưu (Hán) nên được xem là đối nghịch với Lưu Bị và người dòng dõi Trung Sơn Tĩnh Vương. Vì thế, đương nhiên kẻ đối nghịch là Tào Tháo phải được mô tả như một tên “gian hùng”.

youtu.be-c9zhJSn4wLc (18)
Tào Tháo bị cho là không thuộc dòng chính thống vì là giặc nhà Hán (Ảnh: youtube).

Tháo khôn ranh từ nhỏ. Vốn nghịch ngợm nên hay bị người chú mách với cha là Tào Tung. Vì thế, Tháo nghĩ ra ngay một kế để lừa chú. Thấy chú đến, Tháo giả vờ nằm quay ra đất như kẻ bị trúng phong. Chú Tháo thấy vậy sợ quá liền chạy vào báo với Tào Tung.

Tung ra thấy con không làm sao bèn hỏi: “Chú mày nói trúng phong, khỏi rồi à?”, “Thưa cha, từ nhỏ có bao giờ con bị bệnh ấy đâu! Chẳng qua chú ghét con mới đặt điều ra thế.” Từ đấy, Tào Tung tưởng thật và không bao giờ tin người em khi ông này mách tội Tào Tháo nữa.

Người ta đã quá quen thuộc với các giai thoại về Tào Tháo với châm ngôn nổi tiếng: “Thà ta phụ người còn hơn để người phụ ta“. Ví như Tháo giết cả nhà Lã Bá Sa, mượn đầu Vương Hậu để yên bụng ba quân, giả vờ ngủ say để rồi giết cả lính hầu… Trong cái “bảy thực ba hư” của Tam Quốc, tác giả mượn Tào Tháo để mô tả một cách khái quát và sống động tính “gian hùng”, đa nghi ấy.

Tào Tháo kỳ thị người hiểu rõ gan ruột mình đến chân tơ kẽ tóc như Dương Tu và Tuân Úc, sau này đều là các nạn nhân của ông. La Quán Trung đã dành trọn ác cảm với họ Tào qua bài hịch hùng hồn do Trần Lâm soạn cho Viên Thiệu khi chuẩn bị khởi binh đánh Tào Tháo.

Phải chăng với tư tưởng chủ đạo của Tam Quốc diễn nghĩa, ở Tào Tháo, chữ “nhân” – yếu tố đầu tiên của Ngũ thường (Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín), được xem là thiếu hụt hơn hết so với các mặt khác. Chính điều này khiến ông không thể thuộc phe hoàn toàn “chính nghĩa”. Lòng nhân từ bác ái là điều mà từ xưa tới nay mọi người đều đặt lên hàng đầu, vì vậy không khó giải thích khi chứng kiến ác cảm với Tào Tháo của nhiều thế hệ người đọc Tam Quốc sau này.

1_448_336
Trong khi Tào Tháo thì “bất nhân”, còn Lưu Bị lại nổi tiếng về lòng nhân nghĩa trùm thiên hạ (Ảnh: youtube).

Thực tế, Tào Tháo xuất sinh từ thời bình (hồi còn trẻ) cho đến lúc thời loạn (lúc đã lớn), chứng kiến sự hủ bại của triều đình, sự thủ đoạn của các chư hầu như đã nói ở phần đầu, thì thấy không thể nhờ cậy hay nương tựa vào một ai.

Kể từ lúc đó, Tào Tháo quyết định sẽ hành động một mình. Năng thần phải có quyền lực để trấn áp gian thần. Không có quyền lực, mọi ước muốn cải cách chỉ là trên giấy.

Con đường Tào Tháo kể từ sau khi tách ra khỏi liên quân Viên Thiệu chính thức bước sang một trang mới. Tháo bắt đầu chiêu binh mãi mã, chiếm đất, chiếm thành, rồi sau đó nhờ cơ trời ông có thể bảo giá vua mà tiến lên thành Thừa tướng nhà Đông Hán.

Khi này, quyền lực đã ở mức rất cao (dù chỉ là quyền lực chứ chưa có thực lực quân sự), thì ông đã có thể mỉm cười khi thấy ước muốn thống nhất thiên hạ của mình bấy lâu có hy vọng trở thành hiện thực được rồi.

Từ những chiến thắng về mặt quân sự, Tào Tháo cũng từng bước đi xa hơn trên con đường chính trị. Năm 213, Tháo ép Hiến Đế phong mình làm Ngụy Công, ban cho Cửu tích. Năm 216, đánh Trương Lỗ xong, Tháo được “từ tước Công thành Ngụy vương”, hưởng thụ các đặc quyền “triều bái không phải xưng danh”, “vào triều không phải rảo bước”, được “đeo kiếm lên điện”, thậm chí được “đội mũ miện có mười hai tua, đi xe sáu ngựa kéo” (những nghi thức của bậc đế vương), lại lấy Tào Phi làm Thế tử nước Ngụy.

Năm 220, chỉ vài tháng sau khi Tào Tháo mất, Tào Phi ép Hiến đế nhường ngôi, nhà Ngụy chính thức thay thế nhà Hán. Từ việc “phụng mệnh thiên tử hiệu lệnh chư hầu” cho đến cái tiếng “gian tặc thoán nghịch” của Tào Tháo, nên trong con mắt của Nho giáo truyền thống ông luôn là một kẻ “gian”.

youtu.be-h-IqT-TH9E4 (5)
Thực ra Tào Tháo chính là một bậc anh hùng thiên cổ (Ảnh: youtube).

Không ai mới sinh ra đã là gian hùng. Tào Tháo cũng vậy. Từ “năng thần” biến thành “gian hùng”, nói như Hứa Thiệu là do từ “trị thế” chuyển sang “loạn thế”. Nhưng trong tư duy của Tào Tháo, cũng phải có một quá trình chuyển tiếp lâu dài. Như chính lời Tào Tháo tự thuật rất thành thật trong bản “Thuật chí lệnh” của mình:

Cô ban đầu được cử làm Hiếu liêm, tuổi trẻ, tự biết mình không phải là kẻ sĩ nổi danh nơi hang động, thế nên chỉ muốn làm một viên Quận thú, nắn sửa chính giáo, kiến lập danh tiếng, khiến kẻ sĩ trên đời biết đến mình…

… Cô thân là Tể tướng, ngôi nhân thần đã cực quý, ước vọng đã quá rồi vậy. Cô nói lời này, xem như tự cao tự đại, là muốn cho người ta nói hết lời, nên không phải úy kỵ gì. Thiết nghĩ quốc gia nếu không có Cô, chẳng biết có bao người xưng đế, bao kẻ xưng vương?…”.

Gian hùng, có lẽ quả thật do loạn thế mà tạo ra vậy.

Sử liệu từ “Tam Quốc Chí” đã cho ta nhìn thấy một năng thần Tào Tháo vốn đã bị “Tam Quốc diễn nghĩa” vùi che, một bộ mặt khác của kẻ “tuyệt gian” trong “tứ tuyệt” thời Tam Quốc. Thời Tam Quốc, anh hùng nghĩa sĩ lớp lớp như sóng cuộn Trường Giang. Người đời thường vì cái gian hùng của Tào Tháo mà tạo thành ác cảm.

Tuy thế, thực sự ông là một anh hùng, thậm chí là một ngôi sao lớn trên bầu trời Tam Quốc, sánh ngang những bậc đại trí, đại dũng khác như Quan Vũ, Gia Cát Lượng. Tiếng oan nghìn năm là gian thần tàn ác của Tào Tháo đã đến lúc phải được giải.

Ánh Trăng 

Đọc nhiều

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài. Trong kiếp nhân sinh này, mỗi người đều có sự lựa...

Có gì ở bệnh viện đa khoa quốc tế hơn 20.000 m2 mới khai...

Vừa qua, tại Hà Nội có thêm một bệnh viện đa khoa quốc tế hiện đại đi vào hoạt động. Chỉ sau một thời...

Cập nhật dịch COVID-19 sáng 2/3: Số người tử vong trên thế giới tăng...

Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc (NHC) hôm nay (2/3) thông báo có thêm 42 ca tử vong vì COVID-19 trong ngày...

Mặc tin đồn hẹn hò ‘bủa vây’, Bích Phương diện đồ gợi cảm dự...

Bích Phương vô cùng quyến rũ trong tiệc sinh nhật của "soái ca" Đăng Khoa. Lẻ bóng “lâu năm”, dường như các fan hâm mộ...