Văn học nghệ thuật

Thoát thai từ biển trầm luân, khuôn trăng dịu nét thiên thần từ bi

Trăng vằng vặc tấm gương trời
Ta soi ta lại thấy người ta soi
Người soi ta thấy mặt người
Mặt đời soi chiếc gương đời với trăng…

Thoát thai từ biển trầm luân
Khuôn trăng dịu nét thiên thần từ bi
Đốt bao nhiêu kiếp sân si
Mặt trời nuôi nắng muôn vì sao xa…

Thoát thai từ biển trầm luân/Khuôn trăng dịu nét thiên thần từ bi (Ảnh:dongtuyen.com)

Tắt luân hồi giữa bao la
Trăng non đủ tuổi thì ra trăng rằm
Người lên chín cõi cao xanh
Thân tâm người hóa thân tâm mặt trời…

 

Cầu vồng khuyết chia cuộc đời hai nửa

Em đã đến cho lòng tôi dịu lại
Dẫu thoảng qua cũng vơi bớt oi nồng
Em đi rồi một khoảng trống mênh mông
Cầu vồng khuyết chia cuộc đời hai nửa

Mãi nhớ về con đường mưa một thuở
Nắm tay nhau ta nguyện ước điều gì
Bong bóng kia sao vội vỡ làm chi
Để nguyện ước tan trôi theo mưa ướt

Em đi rồi một khoảng trống mênh mông. Cầu vồng khuyết chia cuộc đời hai nửa. (Ảnh: DinhVanLinh/flickr.com)

Em đã tưới cho hồn tôi xanh mướt
Chỉ thoảng qua xao xuyến mãi khôn nguôi
Chia xa rồi lòng còn lại chơi vơi
Phía chân trời cầu vồng chia hai nửa

Cầu vồng khuyết cho chân trời rực lửa
Cho mầu mây thành lấp lánh kiêu sa
Cảm ơn em, thiên thần nhỏ điệu đà
Lòng chống chếnh tình yêu cầu vồng khuyết.

Chia xa rồi lòng còn lại chơi vơi. Phía chân trời cầu vồng chia hai nửa. (Ảnh: Israel21c.org)

Bình An

 

 

 

Thái Bình Thiên Quốc (P.5): Can vương Hồng Nhân Can

Lời toà soạn: Lịch sử 5.000 năm văn minh, văn hoá của Á Đông là cả một kho tàng vô giá cho hậu thế. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những quan niệm mới có phần thiên kiến, lệch lạc, lịch sử ấy đã bị cải biên và nguỵ tạo nhiều. Với mong muốn phục hưng lại nền văn minh vĩ đại cũng như những truyền thống đạo đức quý báu, chúng tôi tiến hành loạt bài về lịch sử Á Đông gửi đến quý độc giả, ngõ hầu phá giải được những quan niệm sai lệch hiện nay.  

Thái Bình thiên quốc tồn tại chỉ 15 năm, ngắn ngủi nhưng hào hùng, khiến cả triều Thanh và phương Tây run sợ. Sự tồn tại của nó chính là lời cảnh tỉnh của Trời cao với thế nhân. Cứ khi nào đạo đức xã hội bại hoại thì sẽ có đại nạn. Hồng Tú Toàn đã hoàn thành sứ mệnh cảnh tỉnh thế nhân phải biết tôn kính Thiên thượng mà giữ gìn đạo đức phẩm hạnh, chờ đợi đến ngày được cứu độ.

Phần 5: Tinh trung Hồng Nhân Can – những vần thơ bất tuyệt hào hùng

Trong Thái Bình Thiên Quốc, Can vương Hồng Nhân Can là một trong số những huynh đệ cùng gia tộc với Hồng Tú Toàn, khi còn nhỏ đã từng đi theo Hồng Tú Toàn học tập một năm. Thời trẻ vì yêu thích đọc sách thánh hiền, ông đã viết nên một tập kinh sử liệt kê những điều bản thân từng trải. Ông không chỉ hiểu biết sâu sắc về thời kỳ Xuân Thu đại nghĩa mà còn tinh thông am hiểu về thiên văn.

Hồng Nhân Can kể rằng, đường huynh Hồng Tú Toàn của ông là một bậc trung tín, có tư chất thông minh và đặc biệt xem trọng nghiên cứu văn thơ. Bản thân Hồng Nhân Can cũng vậy, mỗi lần nhìn thấy những câu chữ trung trinh, lễ tiết, nhân nghĩa ông sẽ ghi nhớ mãi không quên.

Bậc quân sư lỗi lạc như Văn Khúc tinh hạ phàm

Sau cuộc khởi nghĩa của Hồng Tú Toàn tại Kim Điền, Hồng Nhân Can luôn mong muốn sẽ có đủ bản lĩnh để tương lai phò tá các huynh đệ của mình. Vậy nên, ông quyết định theo học người Tây phương ở Hương Cảng, đồng thời nghiên cứu về thiên văn, địa lý, lịch số và y thuật chữa bệnh. Hồng Nhân Can đã lưu lại tại Hương Cảng khoảng bảy năm, ông cũng từng đến Đông Quản (Quảng Đông) để hành nghề y và xem bói trong một năm, và ở hai năm tại Thượng Hải.

Trong thời gian ở Hương Cảng, Hồng Nhân Can luôn cảm mến phong tục, tập quán, và các nghi lễ phương Tây của người dân nơi xứ lạ. Người Tây phương ở đây cũng có thiện cảm với Hồng Nhân Can, thông qua ông mà họ có được nhiều mối quan hệ thông thương và mậu dịch hòa hảo.

Sau khi cha mẹ mất và làm trọn đạo hiếu của một người con, Hồng Nhân Can bắt đầu tiến về Thiên Kinh để trợ giúp Hồng Tú Toàn, tận dụng mọi hiểu biết của mình để phò tá. Tại bữa tiệc tiễn biệt ở Hương Cảng, ông đã viết một bài thơ:

Bên gối kinh nghe nhạn Nam chinh,
Dõi theo buồm gió rạng đôi bờ
Chẳng gảy tỳ bà ly biệt khúc,
Đem mấy vần thơ thổi cờ đi.

Ý sâu cỏ biếc long lanh sóng
Xa cách quan san nhạn hữu tình.
Vẫy tay thuyền đi thôi chớ ngóng,
Anh hùng nay nhé thỏa vẫy vùng.

Về sau khi Hồng Nhân Can đến Thiên Kinh, Hồng Tú Toàn rất ngưỡng mộ tài năng và học vấn của ông nên phong tước vị cho ông làm “Khai triều tinh trung quân sư Can Vương”, mệnh lệnh ông trợ giúp việc quản lý triều chính.

(Ảnh minh họa: yutaizx.club)

Vào thời điểm Hồng Nhân Can được phong tước vị vương gia, bá quan văn võ cả triều đều buông lời oán thán, bởi vì ông chưa lập nên công trạng nào mà lại được phong vương. Trước đó vào thời Tam Quốc, Lưu Bị mời Gia Cát Lượng trợ giúp, Quan Vũ và Trương Phi cũng mang tâm không phục. Triều đại Hán, Hàn Tín là một vị danh tướng tài ba xuất chúng, vì nhà Hán mà gây dựng cả cơ đồ giang sơn, nhưng lại vấp phải rất nhiều lời gièm pha phê bình. Còn Hồng Nhân Can, vì thấy các quan văn võ mỗi người một lời nhốn nháo ầm ĩ nên ông đã từ chối tước vị vương gia để tránh lòng quân oán giận.

Hồng Tú Toàn bèn triệu tập quần thần, mệnh lệnh cho Hồng Nhân Can phải lên đài thụ ấn. Hồng Tú Toàn nói: “Sóng gió đang lên, không lâu rồi sẽ ngừng lại”. Hồng Nhân Can trước mặt mọi người đã bước lên đàm luận đạo nghĩa, nói về thiên văn địa lý cùng những tư tưởng chính trị mới. Ông không chỉ một lần nữa đem chế độ Đông Vương ra nghị luận, mà còn mang những án kiện trước kia đã được công bố lần lượt phê bình và diễn nói lại rõ ràng. Ông phong thái đĩnh đạc ngay thẳng, ngôn từ mạnh mẽ phóng khoáng, khiến văn võ quần thần đều nghẹn ngào lắng nghe, ai ai cũng đều tấm tắc tán thưởng. Sau đó mọi người đã thay đổi sắc mặt, ca tụng rằng ông quả xứng là Văn Khúc tinh hạ phàm.

Hồng Tú Toàn hạ chiếu lệnh: Về sau, đối với những chuyện đại sự trong quân đội và chính trị, nếu có vấn đề nào không giải quyết được thì hãy đi hỏi Can Vương, những vấn đề chính sự đối ngoại thì đi hỏi Anh Vương, còn với những chuyện đại sự trong ngoài không thể giải quyết được thì đi hỏi Thiên Vương. Bởi vậy, mọi người phải kiềm chế tâm thái, tiết chế bản thân.

Hồng Nhân Can soạn bộ “Tư chính tân thiên”, ông nói: “Không mưu cầu tước lộc vinh hiển, mà phải thực sự mong muốn góp phần tham gia soạn thảo những phương án, kế sách, dùng hiểu biết tài năng mà lắng nghe, báo đáp ơn tri ngộ với Thánh Chủ”. Ông không phải vì ham muốn tước lộc, mà là vì báo đáp ơn tri ngộ của Thánh Chủ. Nội dung của “Tư chính tân thiên” nói về vấn đề chấn hưng thương nghiệp, kinh doanh ngân hàng, xây dựng đường sắt, khai khoáng, sáng lập bưu chính, làm báo giấy, thậm chí còn lập nên người giám hộ theo chế độ tư pháp quy định và giám sát chính phủ, v.v.

Những động thái như việc Anh vương Trần Ngọc Thành dẫn quân đi chinh phạt Giang Bắc, Lý Tú Thành tiến đánh Hồ Bắc, Giang Tây và Tô Hàng… đều là xuất phát từ những kế sách mưu lược của Hồng Nhân Can. Vào thời kì cuối của Thái Bình Thiên Quốc, các vị vương gia trú đóng ở nhiều vùng biên cương, tự ý cầm giữ lương bổng, vì tước vị càng lớn thì chiêu binh càng thêm vững chắc, cho nên khi triều chính muốn điều động binh quyền thì không còn hiệu nghiệm.

Hồng Nhân Can có ý định liên hợp với ngoại quốc, đánh hạ Vũ Hán và Kinh Tương để khống chế toàn bộ Trường Giang, sau đó sẽ từ Tứ Xuyên công phạt Thiểm Tây. Nhưng bởi vì Lý Tú Thành quá vui thú nơi Tô Hàng nên không để ý đại cục của Giang Bắc, từ đó gây khó dễ cho Hồng Nhân Can khi muốn liên hợp với người Tây phương. Bởi vậy, mặc dù kế hoạch ban đầu rất chu toàn nhưng cuối cùng lại bị thói ham vui của Lý Tú Thành làm hủy cả đại cục.

(Ảnh minh họa: ifuun.com)

Noi theo Văn Thiên Tường, phó mệnh cho trời

Sau thất bại của quân Thái Bình tại Quảng Xương Ấp, Hồng Nhân Can bị quân Thanh bắt và giam giữ tại quân doanh Tịch Bảo Điền. Trần Doanh nói với Hồng Nhân Can rằng, nếu khai ra tân Thiên Vương thì sẽ được thả, đồng thời còn được trọng thưởng một ngàn lượng bạc, đảm bảo con đường tương lai sẽ rộng mở.

Hồng Nhân Can đáp rằng: “Ngươi bảo ta khuyên vương chủ đầu hàng, nhưng chuyện này không phải đạo của một bề tôi đối với vua. Huống chi lại còn muốn ta dẫn các ngươi đi bắt tân Thiên Vương hay sao? Ta vốn là huynh đệ với thiên hoàng, là vương thúc của đương kim ấu chủ, là một vương gia khai triều tinh trung quân sư, tổng chưởng quản lý mọi việc chính sách quan trọng cả trong ngoài triều đình, làm sao có thể chịu nỗi khuất nhục này? Mọi chuyện đã đến bước này, ngươi muốn giết cứ giết, không cần vũ nhục ta”.

Trần Doanh Quan thấy bản tính chính trực ngay thẳng của ông, đã đem ông giải đến quan dưới trướng Tịch đại nhân. Tịch Bảo Điền nói: “Hôm nay bắt được một kẻ không chịu thừa nhận thân phận của mình. Ta muốn giết hắn mà lại không biết được danh tánh, quả là uổng phí để hắn chết đi, chi bằng ngươi ra xác nhận thân phận hắn một chút”.

Hồng Nhân Can nói: “Sắp chết đến nơi, ta cũng chẳng phải mua danh cầu lợi. Xưa nay trung thần không liên đới tham gia mọi việc giữa hai vua, liệt nữ không gả hai chồng. Nước còn thì ta còn, nước mất thì ta mất”.

Hồng Nhân Can mặc dù bị bắt nhưng vẫn coi bản thân là vương tước đại thần của Thiên triều, tuân thủ thân phận của một thần tử, không bán chủ cầu vinh.

Hồng Tú Toàn trước khi băng hà đã từng lưu lại di chiếu cho thiên hạ biết rằng: “Trẫm mến mộ người huynh đệ có tài văn chương, kiến thức hiểu biết về các nước rất sâu rộng, trên thông thiên văn dưới tường địa lý”. Hồng Tú Toàn căn dặn Hồng Nhân Can hãy quản lý mọi việc đại sự từ quân đội đến chính trị, ngày sau tận tâm trợ giúp ấu chủ, không quên hoàng mệnh.

Hồng Nhân Can đã trả lời rằng, sau khi Thiên Vương băng hà ông nhất định sẽ hết lòng tận tâm phò tá triều chính, cúc cung tận tụy. Về sau thành Thiên Kinh bị vây hãm, ông cùng ấu chủ bị thất lạc. Từ đó ông luôn tự trách bản thân vì đã không làm tròn theo di mệnh của lão Thiên Vương lúc lâm chung, làm sao có thể bán chủ cầu vinh đây?

Hồng Nhân Can nói: “Ta nghĩ, nhân sinh giữa trời đất thì phải thật sự dốc hết lòng với hai chữ Trung Hiếu thì mới có thể thành công. Đã không làm tròn bổn phận tận hiếu, nếu như hôm nay lại không thể tận trung, bên trên lại phụ sự phó thác của lão Thiên Vương, khiến ấu chủ sống còn hiện chưa rõ. Nay ta lại không thể chỉ huy kiềm chế các vương thì còn có mặt mũi nào sống tạm bợ chỉ chốc lát này”. Hồng Nhân Can tự dằn vặt bản thân, thể hiện rằng ông muốn làm theo Văn Thiên Tường, cho rằng sinh tử được mất đều phó mặc cho mệnh trời, không đòi hỏi mong cầu điều chi.

Bởi vậy ông nói với Tịch đại nhân: “Ngươi cứ việc áp giải ta đến Bắc Kinh, hãy giết ta để thành toàn tâm nguyện của ta, ta cũng chẳng có gì phải hối tiếc”. Hồng Nhân Can ngôn từ lưu loát, thẳng thắn, chính trực, không một chút sợ hãi né tránh, nói đến tận cùng tâm huyết của một vị trung thần chính nghĩa, dù trong hoàn cảnh nào cũng không phản bội vương chủ của mình.

150 năm đã trôi qua, khi hồi tưởng lại cuộc hành trình đầy bi tráng của các vị vương, vì để tránh cho những thứ xấu xa lưu truyền làm dơ bẩn thương khung, ông đã tận lực trông coi bảo vệ những thần tử trung tín cho đến thời khắc cuối cùng. Sinh tử đối với ông cũng chỉ là được mất nhất thời, không đáng phải nhắc đến, có thể giữ vững được lời ủy thác của Thiên Vương mới chính là sứ mệnh của ông tại vùng đất Trung Hoa này.

Vào khoảnh khắc cuối cuộc đời, những điều ông mang theo không phải là nỗi sợ hãi sinh tử, mà là sự nuối tiếc khi cơ đồ đại nghiệp vẫn chưa đạt được, chí lớn kiên cường, hùng tráng vẫn chưa thực hiện xong.

Tài liệu của Quân cơ xứ triều Thanh, Tuần phủ kiêm Đề đốc Giang Tây Hàm Quan Phòng hỏi cung Hồng Nhân Can, hiện đang lưu giữ ở Bảo tàng Cố cung Đài Bắc. (Ảnh: epochtimes.com)

Phụ lục: Bài thơ tuyệt mệnh của Hồng Nhân Can

Xuân Thu đại nghĩa biệt ra đi
Vẫn còn mê muội chẳng biết chi
Giặc Bắc làm mê chân bản tính
Cương thường văn vật đảo điên thì.

Chí lớn đuổi giặc còn chưa báo
Miêu Cách bảy mươi đức chưa tròn.
Gót chân giẫm nát mây đầu núi
Ngắm trông biển cả mảnh trăng thu.

Chí lớn vẫn còn trời đất rộng
Lòng son đọng mãi cổ kim sầu.
Thế gian ai kẻ anh hùng nhỉ
Đứng ngóng cảm thương luống bạc đầu.

Anh hùng cười nói cầu vồng khí
Cảm khái cổ kim uất hận đầy.
Giặc Bắc chiếm Chu bao đời hận
Minh Tống Liêu Nguyên Thát Đát hung
Mối thù truyền kiếp còn chưa trả,
Chớ để độc này vấy trời xanh.

Giặc Bắc vốn chẳng người cùng tộc,
Tiền lương binh mã lấy của ta.
Huynh đệ tương tàn ôi đau xót,
Vạn cổ anh hào mãi thở than.

(Theo Đại Kỷ Nguyên tiếng Trung)
Tác giả: Hoàng Phủ Dung
Tuệ Liên biên dịch

 

 

Tiểu thuyết ‘Nước mắt của những vì sao’ (chương 39): Những cánh rừng lặng im

Ngày tận thế đang đến gần, ma quỷ từ địa ngục đang tràn lên khiến khiến nhiêu vùng đất của cõi trần biến thành miền đất quỷ dữ. Các sinh linh di tản đến vùng đất an toàn hơn bỏ lại sau những cánh rừng, khiến chúng trở lên im lặng. Khi Tiểu Minh và nàng tiên Leni đến miền đất này đã cứu một chú khỉ bị thương và bị đồng loại bỏ lại. 

> Tiểu thuyết ‘Nước mắt của những vì sao’ (chương 37): Nơi kết thúc của thời đại Rồng

> Tiểu thuyết ‘Nước mắt của những vì sao’ (chương 38): Thành Mây

Vào thời mạt kiếp, con người trở nên độc ác và tham lam, bất kính với các vị thần linh. Chính vì thế các vị thần không còn bảo hộ con người, nhân loại càng trượt dốc nhanh hơn. Để đảm bảo an toàn, cuộc hành trình của Tiểu Minh và nàng tiên Leni dưới sự dẫn dắt của thần Mặt Trời cũng tránh xa loài người. Nên trong suốt cuộc hành trình, hai người không gặp bất cứ một bóng người nào.

Sau khi dời khỏi vùng biển Hạ Long, Tiểu Minh và nàng tiên không đi dọc bờ biển mà đi vào một vùng rừng thưa. Vùng rừng này không khác gì những cánh rừng bình thường, chỉ là hầu như vắng bóng muông thú. Không tiếng chim ca, vượn hót, và hầu như không có tiếng động. Chúng như thể là những cánh rừng chết vậy.

Sự tĩnh lặng của những khu rừng khiến Tiểu Minh không khỏi cảm thấy kỳ lạ, cậu ngó trước ngó sau như để tìm kiếm thứ gì đó. Nàng tiên Leni nhẹ nhàng giải thích:

“Ngày tận thế đang đến gần. Ma quỷ từ địa ngục đang tràn lên khiến gần một nửa nhân gian biến thành miền đất quỷ dữ. Những sinh linh nơi đây hẳn là cảm thấy nguy hiểm, nên đã di tản đến vùng đất an toàn hơn.”

“Một nửa nhân gian?”, Tiểu Minh giật mình, “Nhanh như vậy ư? Vậy chẳng phải chúng ta đang tiến về miền đất quỷ dữ?”

“Đúng vậy”, nàng tiên Leni nhẹ nhàng gật đầu.

Tiểu Minh như hít một hơi lạnh, tuy rằng cuộc hành trình này có các vị thần bảo vệ, nhưng tiến vào miền đất quỷ dữ thì hẳn là không dễ chịu.

(Ảnh minh họa: vforum.vn)

Tuy nhiên, những ngày tiếp theo, cuộc hành trình cứ như vậy bình yên ngày này qua ngày khác, Tiểu Minh và nàng tiên Leni cũng không gặp bất kỳ nguy hiểm gì. Cũng vì vậy mà hai người hầu như cả ngày không nói với nhau câu nào ngoài những câu đại loại như “chúng ta hãy dừng chân tại đây”…

Với Tiểu Minh, những cảm xúc lâng lâng xúc động của những ngày đầu cuộc hành trình không còn nữa. Khi ấy cuộc đời với cậu thật kì diệu khi được ở bên nàng công chúa tiên giáng trần. Khi ấy cậu tin tưởng mìnhvà nàng sẽ kết thân với nhau, không có lí do gì khiến điều đó không xảy ra khi hai người cùng chung một sứ mệnh, cùng đi trong cuộc hành trình cô độc, và cần phải giúp đỡ nhau trong gặp khó khăn hoạn nạn. Cậu còn mơ tưởng ra bao điều giữa hai người, cậu sẽ kể cho nàng nghe những câu chuyện của thế giới loài người, hát cho nàng nghe những bài ca mà con người yêu thích, còn nàng sẽ kể cho cậu về thế giới thần tiên, thế giới có biết bao điều thú vị ngoài tầm hiểu biết của cậu.

Con người hay mơ mộng hão huyền, Tiểu Minh thấy thật đúng và những mộng tưởng đó với cậu lúc này cũng đã tan đi như mây khói. Nàng tiên Leni trang nghiêm và cao quý, không phù hợp lắm với các trò vui mà cậu muốn thể hiện với nàng. Nàng cũng chỉ chia sẻ với Tiểu Minh những điều liên quan đến cuộc hành trình giải cứu dân tộc Hòa Bình. Chuyện về thế giới thần tiên hầu như vẫn còn là bí mật với Tiểu Minh. Sự trang nghiêm của nàng khiến Tiểu Minh cũng không dám hỏi những điều không liên quan đến sứ mệnh của hai người.

Với Tiểu Minh, nàng tiên lúc này chỉ như một người dẫn đường, thế giới xung quanh cũng thật buồn thảm, chỉ là rừng hoang và gió vi vu.

Tiểu Minh trở về với nỗi lòng của riêng mình, nhớ cha, nhớ cánh đồng, nhớ dòng sông rồi nhớ đến cả những vật dụng mà thường ngày chẳng bao giờ để ý tới. Nếu không phải cậu đang thực hiện sứ mệnh để giải thoát mình khỏi lời nguyền ngàn năm thì có lẽ đã hoàn toàn chán nản với cuộc hành trình này rồi. Bây giờ cậu cũng chỉ mong có thể nhanh chóng hoàn thành sứ mệnh này rồi trở về với cha, với những cánh đồng lúa chín vàng, với những dòng sông xanh trong. Đó mới là chính là cuộc sống của cậu. Đôi lúc cậu cũng nghĩ tới ngày tận thế, nhưng cậu tin rằng cái thế giới vĩ đại đang tuôn trào sự sống kia có lẽ cũng không thể bị hủy diệt ngay được.

Đang trong lúc Tiểu Minh có những suy nghĩ như vậy thì cậu có thêm một người bạn đồng hành mới. Trong một đêm Tiểu Minh và nàng tiên Leni đang ngồi đả tọa thì có một con khỉ mon men đến gần. Tiểu Minh thì vẫn chưa đạt đến đả tọa thâm sâu, sự xuất hiện của con khỉ khiến cậu nhanh chóng phát hiện ra.

(Ảnh minh họa: baitapsgk.com)

Ban đầu cậu cũng định kệ nó muốn làm gì thì làm, nhưng đến khi nó lục lọi tay nải của Tiểu Minh để tìm đồ ăn cậu mới phát hoảng. Nó mà xơi mất đám lương khô cậu mang theo thì cuộc hành trình sẽ bị gián đoạn. Có vẻ con khỉ đang rất đói nên nó cũng chẳng màng đến nguy hiểm. Nó tìm thấy lương khô là tống ngay vào miệng, thậm chí chẳng cần bóc vỏ. Loài khỉ tuy thông minh nhưng bản chất của nó là ăn uống lãng phí. Con khỉ lúc này cũng vậy, mỗi cái lương khô nó chỉ cắn một miếng là ném đi. Hẳn là nó tính toán sao để ăn hết chỗ lương khô Tiểu Minh mang theo.

Dĩ nhiên Tiểu Minh không để nó làm vậy, cậu lừa lừa đến gần con khỉ đang điên cuồng gặm lương khô và giật phăng cái tay nải khiến nó giật nảy mình. Con khỉ dường như bị cướp chiến lợi phẩm để nó sống sót lên tỏ ra rất tức giận. Liền nhảy sổ vào người Tiểu Minh mà cào cấu để đòi lại, khiến cậu bị một phen tối tăm mặt mũi.

Nhưng con khỉ vốn đang bị thương, lại đói, nên sức lực còn lại chẳng được bao nhiêu. Nó nhanh chóng bị Tiểu Minh tóm gọn và đè xuống. Bị tì vào vết thương, con khỉ kêu lên thảm thiết.

“Đồ quỷ! Đừng có ăn vạ như thế. Ta có đè ngươi mấy đâu”, Tiểu Minh cười nhạt, ngỡ rằng con khỉ ăn vạ. Nhưng rồi cậu cũng nhanh chóng phát hiện ra một chân của nó bị gãy. Lúc này cậu rất hối hận vội ôm lấy con khỉ hết vuốt ve, lại dỗ dành.

Con khỉ hình như cũng mới trưởng thành, xa mẹ không lâu. Cảm giác được mẹ âu yếm hẳn vẫn còn lưu trong ký ức của nó. Nhất là lúc này, bị đồng loại bỏ rơi, lại đói gần chết, nên ký ức đó rất mạnh mẽ và nó nhanh chóng ngoan ngoãn ư ử trong vòng tay của Tiểu Minh.

Tiểu Minh nhanh chóng băn bó, cho nó ăn và uống nước. Con khỉ cũng rất biết điều và quả thực rất khôn. Sau khi được nhắc nhở nó không dám ăn hoang phí nữa.

Sáng hôm sau lên đường, con khỉ lúc này như kẻ sắp chết đuối vớ được cọc, nó cương quyết bám chặt lấy Tiểu Minh. Nàng tiên nhìn thấy cảnh như vậy cũng chỉ còn biết lắc đầu thở dài.

“Cuộc hành trình sắp tới sẽ rất khắc nghiệt!”, nàng nhẹ nhàng nói, “chúng ta sắp tiền vào miền đất quỷ dữ”.

Tiểu Minh cũng biết vậy nhưng giờ cũng chỉ tặc lưỡi cho qua bởi cậu không thể bỏ lại con khỉ này được. Nó đang bị thương, bỏ lại khác gì giết nó.

(Ảnh minh họa: baomoi.com)

Vậy là hai người đã có thêm một người bạn đồng hành mới. Tiểu Minh đặt tên nó là Khỉ Còi sau nửa ngày suy nghĩ. Hình như con khỉ cũng thích cái tên đó, cứ mỗi lần được gọi nó lại khoái chá nhe răng ra cười khéc khéc. Sau đó, thấy con khỉ có những hành động thô lỗ trước mặt nàng tiên, Tiểu Minh liền may cho nó một cái áo được cắt ra từ tấm vải rách bọc trên yên ngựa. Khi mặc vào trông nó chắc khác nào một chú hề.

Nhưng có vẻ con khỉ lại rất thích kiểu áo đó, nó ngó trái, ngó phải, nhìn trước, nhìn sau rồi cười lên khèng khẹc. Đến đoạn đường thấy một loại cây với những chiếc lá như cái bát úp ngược lên trời, Tiểu Minh lại nảy ra ý định làm cho Còi một cái mũ để che nắng, nhưng chỉ được một ngày nó đã vứt đi đâu không rõ.

Có khỉ Còi, trên chặng hành trình tiếp theo Tiểu Minh không còn cảm thấy buồn tẻ nữa. Bây giờ cậu đã có bạn đồng hành để trò chuyện. Tuy vậy, chú khỉ Còi chẳng hiểu Tiểu Minh nói gì và thường ngủ ngay từ những phút đầu tiên, mặc cho cậu thao thao bất tuyệt.

Nam Minh

 

 

Bùi Viện và giấc mộng cường quốc Đại Nam dang dở (P.1)

Hoàng đế Quang Trung mất sớm năm 39 tuổi trong bao niềm tiếc nuối khi giấc mộng đưa Đại Việt trở thành cường quốc hàng hải đành dang dở. Hơn 47 năm sau, nước Nam thời Nguyễn trước hiểm hoạ ngoại xâm đã xuất hiện một vị hào kiệt vô cùng giống với Quang Trung Hoàng đế về tài năng thống lĩnh và tầm nhìn đối với hải quân. Vị hào kiệt đó chính là Bùi Viện – Đô đốc hàng hải thương mại của tuần dương quân hiện đại duy nhất thời phong kiến trong lịch sử Việt Nam.

Phần 1: “Chí tang bồng hồ thỉ dạ nào khuây, phải hăm hở ra tài kinh tế”

Thành Ninh Bình với 1.700 binh lính hạ vũ khí đầu hàng một toán quân Pháp chỉ có bảy người. Muốn thoát khỏi cảnh đô hộ, chỉ còn cách duy tân và tự lực tự cường. Đây cũng là thời điểm mà quân đội quốc gia cần một người tài năng như Bùi Viện.

Hoàng đế Quang Trung từng được xem là chúa tể của tất cả hải tặc Đông Nam Á, là vua của hải tặc. Phát kiến sử dụng hải tặc làm nòng cốt trong lực lượng hải quân của ông không những tạo ra một hạm đội lừng lẫy trong khu vực, lập nên những chiến công lớn mà còn làm cho an ninh hải lộ của nước ta không bị ảnh hưởng bởi nạn cướp biển. Quang Trung mất sớm năm 39 tuổi trong bao niềm tiếc nuối khi giấc mộng đưa Đại Việt trở thành cường quốc hàng hải đành dang dở.

Hơn 47 năm sau, nước Nam thời Nguyễn trong cơn nguy cấp đối mặt với chuyện mất nước đã xuất hiện một vị hào kiệt vô cùng giống với Quang Trung Hoàng đế về tài năng thống lĩnh và tầm nhìn đối với hải quân. Ông đã xây dựng nên một hạm đội tuần dương quân hiện đại vô cùng tiềm năng. Tiếc thay, mệnh trời lại trêu ngươi khi người anh tài này, cũng như Quang Trung, mất sớm năm 39 tuổi. Nước Nam một lần nữa lại để vuột mất cơ hội trở mình thành cường quốc. Thật đáng tiếc thay!

Vị hào kiệt đó chính là Bùi Viện, đô đốc hàng hải thương mại của tuần dương quân hiện đại duy nhất thời phong kiến trong sử Việt Nam.

Bùi Viện (1839 – 1878) hiệu Mạnh Dực, quê ở làng Trình Phố, tổng An Bồi, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định (nay là Trình Trung, xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình). Ông sinh ra trong một gia đình nhà Nho nhưng lại không có duyên khoa cử. Năm 1864 ông đỗ Tú tài, năm 1868 đỗ Cử nhân. Nhưng sau đó hai lần thi Hội năm 1868 và 1869 ông đều hỏng thi. Có lẽ ông Trời không muốn ông đỗ đại khoa làm quan to mà muốn an bài để ông làm những việc phi thường chăng?

Hải quân Đại Nam, thời huy hoàng nay còn đâu?

Để thống nhất quốc gia, nhà Nguyễn phải ưu tiên xây dựng thủy binh hùng mạnh để giành chiến thắng trong cuộc đối đầu với quân Tây Sơn, một lực lượng hải quân có thể coi là tinh nhuệ nhất Đông Nam Á đương thời.

Nguyễn Ánh, giống như Nguyễn Huệ, cũng là một trong những vị hoàng đế hiếm hoi vô cùng tinh thông thủy chiến và nghệ thuật đóng tàu. Ông đã trực tiếp chỉ huy xây dựng hạm đội nhỏ bé của mình trở thành một lực lượng đáng sợ ở Đông Nam Châu Á và giành chiến thắng chung cuộc. Kết quả là trong vỏn vẹn 10 năm, Nguyễn Ánh đã thành lập một hạm đội với số thuyền hùng hậu lên tới 100 chiến hạm, 800 pháo hạm và 500 bán pháo hạm. Trong đó đáng kể nhất là chiếc Long Phi được trang bị đến 32 khẩu đại bác, Phụng Phi và Bằng Phi có 26 khẩu với sức chứa trên 300 người mỗi thuyền. Điều đáng nói là các chiến hạm và vũ khí này hiện đại tương đương với các đế quốc châu Âu thời đó và tất cả đều được đóng bởi chính người lính thợ Đại Nam.

(Ảnh minh họa: vietbao.vn)

Đây là một lực lượng đủ sức thống trị đường biển và đánh bại bất kỳ đối thủ nào cùng thời. Đã có rất nhiều ghi chép về giai đoạn này trong các tư liệu nước ngoài:

“Liệu cũng trong vòng 10 năm ác liệt như thế, các thần dân rất năng nổ của vua Louis XVI (chỉ Chính phủ Pháp) có thể xây dựng được đội quân hùng hậu như vậy không?”

(Trích “Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793)”, J.Barrow)

“Các xưởng đóng chiến thuyền trong xứ và các quân cảng được Ngài xếp đặt chỉnh tề, đồ sộ; người ngoại quốc đến xem phải động lòng kính phục, nếu cả châu Âu được trông thấy thì cả châu Âu cũng phải khen ngợi.

Một bên bài trí la liệt những súng trường, súng thần công, đại bác đủ hạng, những dã pháo, những xe chở súng, những viên đạn lớn nhỏ đủ cỡ… Phần nhiều so sánh với các kiểu súng đạn tốt nhất ở Tây phương, bất quá chỉ thua kém về vẻ đẹp mà thôi”.

(Le Labrousse, một người Pháp viết trong bức thư đề ngày 1/5/1800 gửi cho giám đốc trường Tu nghiệp của Hội Truyền giáo ngoại quốc ở Paris).

Hạm đội hùng mạnh kia của quân Nguyễn lẽ ra đã có thể được duy trì để chiếm ưu thế trên mặt biển vào thời đó (thế kỷ 19) và bảo vệ quyền lợi quốc gia khi mà các quốc gia Tây Âu đang bành trướng hải quân ra khắp thế giới. Thế nhưng, các vua nhà Nguyễn, sau vài cuộc phản loạn, lại trở nên e sợ chính quân đội và các tướng lĩnh của mình, họ thu hết quyền bính và hạn chế đầu tư vào quân đội. Hải quân càng thê thảm hơn khi hoàng gia xác định rằng lục địa mới là mối quan tâm hàng đầu. Họ bị bỏ bê và hầu như không có đầu tư nào đáng kể. Chưa kể chính sách bế quan tỏa cảng từ sau thời Gia Long lại càng khiến cho trình độ quân sự nhà Nguyễn trở nên lạc hậu trong khu vực. Đội ngũ chiến thuyền khét tiếng Đông Nam Á ngày nào giờ đã trở nên vô cùng nhỏ yếu và mỏng manh.

Binh lính bạc nhược ít huấn luyện:

“Các hạng lính trong nước (tổng) cộng ước (độ) hơn 119.000; trừ số thiếu ước (độ) 31.700 còn ước (độ) hơn 80.800; ở kinh các thứ lính (tổng) cộng ước (độ) 21.790 nhưng trừ lính hạ ban và các khoản khác, còn số đương ban là 9540; các tỉnh thì tỉnh lớn có ước (độ) 4 – 5000; tỉnh nhỏ cũng có số nghìn hoặc mấy trăm. Nhưng mà quân lính ấy ít tập luyện, bắn là thuật cần thiết mà mỗi năm chỉ tập một lần thôi, cho nên lâm sự thì rối lên, có khi vừa thấy quân địch đã sợ”.

Thủy quân lạc hậu thô sơ:

“Về thủy binh, đời Tự Đức có độ 7500 người cho toàn quốc, bao gồm 6, 7 chiếc tàu hơi (sau hòa ước Giáp Tuất (1874) được Pháp tặng thêm 5 chiếc tàu nhỏ), khoảng 50 thuyền lớn, nhiều chiếc bọc đồng. Tuy nhiên “thủy quân cũng như các viên quản suất, đều là tay ngang, không biện được sóng gió, không biết thuật đi bể”.

(Phan Khoang – trích lời tâu của Phạm Phú Thứ 1874)

Tranh vẽ lính thuộc quân đội nhà Nguyễn. (Ảnh: wikipedia.org)

Với tình trạng binh bị như thế, người Pháp dễ dàng chiếm lấy nước Nam là điều hiển nhiên. Năm 1873, chỉ trong vòng ba tuần, toàn bộ bốn tỉnh miền đồng bằng sông Hồng gồm Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định với 2 triệu dân cư và một số thành lũy đã rơi vào tay đội quân Pháp chỉ chừng 180 người, chỉ huy bởi viên đại úy hải quân chưa tới 35 tuổi là Francis Garnier. Có thể kể đến trường hợp thành Ninh Bình với 1.700 binh lính hạ vũ khí đầu hàng một toán quân Pháp chỉ có bảy người. Muốn thoát khỏi cảnh đô hộ, chỉ còn cách duy tân và tự lực tự cường. Đây cũng là thời điểm mà quân đội quốc gia cần một người tài năng như Bùi Viện.

“Chí tang bồng hồ thỉ dạ nào khuây, phải hăm hở ra tài kinh tế”

Đường công danh có vẻ không dành cho Bùi Viện, mãi đến năm 29 tuổi ông mới đỗ cử nhân. Ngay sau khi đỗ, ông liền rời quê nhà vào Huế để thi Hội. Tiếc thay, hai lần thi Hội năm 1868 và 1869 ông Cử họ Bùi đều bị trượt! Nhưng vốn tính tình phóng khoáng, có chí khí tài năng nên việc thi đỗ hay không đối với ông dường như không quan trọng mấy. Ông tận dụng thời gian ở kinh đô để làm quen với giới quan lại, đặc biệt là những người có cùng chí hướng và quan niệm cải cách như ông. Thời điểm đó, ông quen biết Lê Tuấn, quan Tham tri bộ Lễ, người rất mến chuộng tài năng của ông.

Cơ hội đến khi năm 1871, Lê Tuấn vâng mệnh vua ra Bắc phối hợp với quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc dẹp loạn quân Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh. Lê Tuấn do không thông hiểu miền Bắc nên mời Bùi Viện theo làm cố vấn. Lần trợ giúp này khá thành công nên triều đình cũng bắt đầu biết đến Bùi Viện.

Vừa xong việc với Lê Tuấn, ông lại xắn tay áo trợ giúp cho Doãn Khuê, Doanh điền sứ Nam Định làm việc khai hoang, lấn biển. Doãn Khuê (1813-1878) là một vị quan văn mà lại có tài thao lược, từng giữ các chức Đốc học các tỉnh Nam Định và Sơn Tây kiêm Doanh điền sứ, Hải phòng sứ các tỉnh duyên hải Bắc Kỳ. Ông là một trong số ít các vị quan có tư tưởng cải cách tiến bộ dưới thời vua Tự Đức, không cam chịu ký hòa ước hàng Pháp.

Có câu: “Anh hùng sở kiến lược đồng”, vì thế mà Doãn Khuê nhìn thấy tài năng của Bùi Viện, một người trẻ tuổi nhưng có “tài kinh bang tế thế”. Ông quyết định mời Bùi Viện ra giúp việc cho mình trong nha Doanh điền sứ. Công việc của nha này không chỉ là khai hoang, mà còn tạo cơ sở địa phương để xây dựng lực lượng dân binh, dùng cho kháng chiến chống Pháp sau này.

Tại đây, Bùi Viện được giao trọng trách vừa đánh dẹp hải tặc, vừa xây dựng kiến thiết bến Ninh Hải thành thương cảng (Ninh Hải là tiền thân của cảng Hải Phòng sau này).

Nhờ công lao khai khẩn của Doãn Khuê mà vùng Nam Định xây dựng được một cơ sở vững chắc, tạo lập được một đạo quân khá tinh nhuệ. Năm 1873, chính đạo quân này dưới sự lãnh đạo của Doãn Khuê và Nguyễn Mậu Kiến đã giao tranh ác liệt với quân Pháp của Francis Garnier, chiếm được đồn Chân Định, bắn cháy một tàu chiến Pháp và đánh bại quân Pháp một trận lớn ở làng Ngô Xá. Trong điều kiện hạn chế, cách biệt về trang bị cũng như trình độ của lực lượng dân quân mà làm nên những chiến công trên quả thật là điều kỳ diệu.

Những năm công cán tại các vùng này, việc tham gia dẹp loạn và công việc ở doanh điền sứ đã đem đến cho Bùi Viện những kinh nghiệm và tầm nhìn giúp ông sau này lập nên Tuần Dương Quân, lực lượng hải quân chuyên nghiệp đầu tiên của nước Nam.

(Còn tiếp)

Tĩnh Thuỷ

 

 

Hoàng đế chung thuỷ nhất lịch sử: chỉ một hoàng hậu, không nạp phi tần

Khi nghĩ đến các hoàng đế thời xưa, chúng ta thường liên tưởng tới “tam cung, lục viện” với hàng ngàn cung tần mỹ nữ. Thế nhưng, ít ai biết rằng có một vị hoàng đế Trung Hoa suốt một đời chung thuỷ với một hoàng hậu, hoàn toàn không nạp thêm phi tần. Vị hoàng đế ấy cũng là một người con chí hiếu.

Minh Hiếu Tông (1470 – 1505), tên thật là Chu Hựu Đường, là vị hoàng đế thứ 10 của nhà Minh và là con trai thứ 3 của Minh Hiến Tông Chu Kiến Thâm và người mẹ xuất thân hàn vi họ Kỷ. Thời kỳ ông trị vì được các sử gia ghi nhận là “Hoằng Trị trung hưng”, với rất nhiều công lao cải cách kinh tế – chính trị, trừ bỏ bè lũ quan lại bất tài và hoạn quan lộng quyền thời trước, khiến cho triều chính thông suốt, lòng người hòa hợp.

Hoàng đế chung thuỷ bậc nhất cổ kim

Dù là thân cửu ngũ chí tôn nhưng Minh Hiếu Tông lại chỉ có duy nhất một người vợ là Hiếu Thành Kính hoàng hậu Trương thị. Trương hoàng hậu trở thành vợ của Minh Hiếu Tông từ năm 1487, khi ông vẫn đang là hoàng thái tử. Sau khi lên ngôi, Minh Hiếu Tông cũng không lập thêm thê thiếp nào mà chỉ chung tình với hoàng hậu, mặc kệ cho quan lại dâng tấu khẩn cầu như thế nào đi chăng nữa.

Minh Hiếu Tông và hoàng hậu của ông duy trì những thói quen sinh hoạt hàng ngày như những cặp vợ chồng bình thường. Theo sử sách ghi lại, có một lần Trương hoàng hậu bị sưng miệng, Hiếu Tông đã tự tay bưng nước, truyền thuốc cho bà. Thậm chí, ông còn không dám ho vì sợ làm phiền bà nghỉ ngơi. Điều này đối với một người đàn ông bình thường đã là đáng quý, huống hồ là bậc đế vương.

Không chỉ vậy, Minh Hiếu Tông còn dành đãi ngộ đặc biệt cho gia đình Trương hoàng hậu. Khi lập hậu được 4 năm, phụ thân Trương hoàng hậu là Trương Loan được phong bá, khi chết đi được truy phong là Xương Quốc công. Hai em trai của hoàng hậu là Trương Hạc Linh được phong là Thọ Ninh hầu và Trương Diên Linh phong Xương hầu.

Minh Hiếu Tông. (Ảnh: wikipedia.org)

Tuổi thơ cơ cực

Có người cho rằng sở dĩ Minh Hiếu Tông suốt đời chỉ chung thuỷ với hoàng hậu là vì tuổi thơ ông đã chứng kiến những hiểm độc và nếm trải đủ đắng cay chốn hậu cung của cha mình là Minh Hiến Tông.

Mẹ đẻ của ông là Kỷ thục phi, con gái một viên quan tộc người thiểu số vùng đất Quảng Tây xa xôi. Theo Minh sử, bấy giờ Vạn quý phi là người được vua Minh Hiến Tông sủng ái nhất. Vạn quý phi sinh hạ được một hoàng tử, nhưng chẳng may bị chết yểu, từ đó bà không thể mang thai thêm lần nữa. Lo sợ người khác có thể cướp mất vị trí của mình, Vạn Quý phi lập dã tâm không để cho bất cứ phi tần nào được sinh con. Bà giết tất cả những đứa trẻ là con của hoàng đế với các phi tần khác. Chỉ cần phát hiện phi tần nào mang thai, bà lập tức bỏ thuốc độc, ép phá thai, thậm chí còn giết chết người đó, thủ đoạn vô cùng thâm độc (2).

Khi biết Kỷ thị có mang, Vạn quý phi bèn sai một cung nữ đem thuốc phá thai tới bắt uống. May mắn thay, cung nữ này động lòng trắc ẩn đã không thực hiện mệnh lệnh, mà trở về nói dối rằng Kỷ thị không có thai mà bị mắc bệnh báng bụng. Vạn quý phi tin cho là thật, lệnh đuổi Kỷ thị ra sống ở An Lạc đường, một lãnh cung cực kỳ hẻo lánh. Năm Thành Hóa thứ sáu (1470), Chu Hựu Đường được Kỷ thị bí mật sinh ra. Nhờ thái giám đùm bọc che giấu, nên Vạn quý phi, hoàng đế Hiến Tông cùng hầu hết các quan đại thần không hề hay biết tới sự hiện diện của vị hoàng tử này.

Năm năm sau, Hiến Tông đã ba mươi tuổi, tâm trạng u uất bởi những đau đớn của hai lần chết con, đã thốt lên: “Trời! Trên đầu trẫm tóc đã bạc rồi, nhưng vẫn chưa có người con nào, thật đáng buồn!” Thái giám Trương Mẫn thấy thời cơ đã tới, bèn quỳ xuống tâu: “Vạn tuế gia đã có hoàng tử rồi, hiện hoàng tử đang ở Tây Nội”. Nhờ đó, cả triều đình mới biết một sự thực vô cùng đáng mừng vẫn được giữ kín bấy lâu. Hoàng đế cử Hoài Ân đến Nội các tuyên chiếu, bố cáo cho thiên hạ rõ. Hiến Tông đích thân đặt tên cho hoàng tử là Hựu Đường, phong Kỷ thị làm thục phi, đón vào cung Vĩnh Thọ.

Không lâu sau, Kỷ thục phi và thái giám Trương Mẫn bị Vạn quý phi ngầm sai người sát hại, khiến trong cung triều Minh lại thêm một nghi án. Hiếu Túc Chu thái hậu (mẹ đẻ của Hiến Tông) lo lắng hoàng tôn bị hãm hại, bèn đón Hựu Đường vào cung Nhân Thọ cùng ở với mình, nhờ vậy hoàng tử được bảo hộ nghiêm mật.

Người con hiếu thuận

Năm 1487, Hiến Tông băng hà, hoàng thái tử Chu Hựu Đường kế thừa ngôi đại thống, đổi niên hiệu là Hoằng Trị.

Mặc dù khi lên ngôi đã không còn cha mẹ, nhưng Hựu Đường vẫn nổi tiếng là ông vua chí hiếu. Ông không bao giờ sao nhãng việc vấn an, trực hầu và xin nghe lời chỉ dạy của thái hoàng thái hậu (mẹ của vua Hiến Tông – bà nội).

Đặc biệt, đối với người mẹ Kỷ thị của Hiếu Tông, tình thân quả thực khác thường. Từ thuở chào đời mãi đến khi sáu tuổi, ông chung sống với mẹ trong cảnh lén lút ở An Lạc đường lạnh lẽo âm u, Kỷ thị đã nuốt mọi niềm cay đắng vào trong lòng để nuôi con. Vừa mới thoát khỏi cuộc sống đen tối, còn chưa kịp để cho người con báo đáp công ơn dưỡng dục, thì Kỷ thị đã đột ngột qua đời. Sau khi Hựu Đường lên ngôi, ông đã truy tôn Kỷ thị làm hoàng thái hậu, đem di thể bà dời tới chôn ở Mậu Lăng, nơi an táng Hiến Tông.

Nghi án về cái chết của Kỷ thị, các đại thần đều dâng tấu xin được điều tra tìm đến tận cùng nguồn gốc. Nhiều người đề xuất cần phải làm sáng tỏ tội ác của Vạn quý phi, tước đoạt thụy hiệu của bà. Thế nhưng, Hựu Đường cho rằng nếu tiếp tục truy xét sẽ liên quan tới cha mình là Hiến Tông, điều này không hợp với đạo lý “Tử vi phụ ẩn” (con giấu tội cho cha) (1). Hựu Đường đã biểu hiện thái độ khoan dung nhân hậu, truyền chỉ không cho phép nhắc tới chuyện đó nữa, vì vậy đã được trăm họ ngợi ca. Cách thể hiện chữ hiếu của Hựu Đường khác hẳn với thói thường thế nhân, không tiêu diệt bè đảng của Vạn quý phi để trả thù cho thân mẫu. Hựu Đường đã chọn cách lấy ân báo oán, lấy từ bi hoá giải hận thù để xây dựng đạo hiếu, vì vậy đạo hiếu của ông mang tính nhân văn cao cả.

Tình cảm nhớ thương vô tận đối với mẹ hiền Kỷ thị, Hiếu Tông đi tìm thân thuộc đưa về kinh sư để báo đáp. Dù vấp phải nhiều trắc trở nhưng Hựu Đường vẫn không nản chí, lần lượt cử các quan viên tới Quảng Tây để truy tìm tông tích. Về sau, Hựu Đường lập miếu vũ tôn thờ ngoại tộc ở phủ Quế Lâm (Quảng Tây), truy phong cho cha của Kỷ thái hậu là Thôi Thành Tuyên Lực Vũ Thần Đặc Tiến Quang Lộc đại phu Trụ Quốc Khánh Nguyên Bá, thụy hiệu là Đoan Hi, truy phong mẹ của Kỷ thái hậu là Bá phu nhân.

(Ảnh minh họa: xuehua.tw)

Vị quân chủ anh minh

Khi mới lên ngôi, Minh Hiếu Tông phải đối mặt với tình thế nghiêm trọng, mâu thuẫn giữa bè đảng của Vạn quý phi và phe thái giám ngày càng trở nên sâu sắc, triều Minh lâm vào cảnh hỗn loạn. Hiếu Tông đã ra sức chỉnh đốn chế độ, chấn hưng vương triều. Ông đã cách chức rất nhiều kẻ gian tà, đồng thời ra sức tuyển chọn bổ nhiệm người hiền tài, thực thi chính sách nghiêm khắc kiểm tra phẩm chất quan lại… làm cho triều chính ngày càng vững vàng, thịnh trị.

Không chỉ nghiêm khắc trong việc chấp pháp, Hiếu Tông cũng nổi danh là một ông vua có đức khoan dung nhân từ. Ông chỉ dụ cho quần thần: “Từ nay trong khi hỏi tội, cần thiết phải giữ lòng khoan thứ nhân hậu, chấp pháp cần phải công bằng, cân nhắc từng lời nói, quan sát sắc mặt, thẩm vấn tình tiết kỹ càng” (Minh Hiếu Tông thực lục). Ông luôn sử dụng chính sách vỗ yên nhân dân, thường xuyên xuất lương thực cứu giúp những vùng bị thiên tai, hỗ trợ người nghèo, miễn giảm thuế dịch…

Sử sách Trung Quốc gọi Chu Hựu Đường là “Trung Hưng lệnh chủ”, đánh giá là ông vua triều Minh đáng ca ngợi kế tiếp sau Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Sau khi Chu Hựu Đường băng hà, căn cứ vào đức độ lúc bình sinh của ông mà hoàng tử Chu Hậu Chiếu kế ngôi đã suy tôn miếu hiệu của ông là Hiếu Tông Hoàng Đế.

Bách thiện hiếu vi tiên

Chung thuỷ và hiếu thuận là hai phẩm chất tưởng chừng tách biệt, nhưng thực ra lại rất có liên quan, cuộc đời Minh Hiếu Tông đã tỏ rõ cho người đời sau điều ấy. Phải chăng vì hiếu thuận với mẹ, nên Hiếu Tông thấu hiểu và cảm thông với những đau khổ của người phụ nữ chốn hậu cung, và ông quyết tâm không để vợ của mình phải chịu tổn thương như vậy?

Người xưa nói: “Bách thiện hiếu vi tiên” (Trong trăm điều thiện thì hiếu đứng đầu) quả là có đạo lý. Lòng hiếu thuận của một người có thể bồi dưỡng thêm, mở rộng thêm trở thành lòng kính trọng, nhân từ đối với tất cả mọi người trong thiên hạ. Một ông vua có lòng hiếu thuận thì cũng dễ dàng bao dung, nhân từ với thê tử của mình, khoan hậu đối với thần dân của mình.

Vậy nên những người phụ nữ muốn chọn cho mình ý trung nhân trọn đời chung thuỷ, phải chăng cũng cần xét xem họ có hiếu thuận với cha mẹ hay không? Với cha mẹ còn không hiếu thuận, thì mong gì đến yêu thương người nào khác nữa!

Khiêm Từ

 

 

 

 

Thao thức trông ngóng nhớ cố hương xa vời vợi…

Mây không có nhà
Mây rơi xuống đất?
Gió không có nhà
Bay về đâu gió?
Núi có nhà không
Mà rừng cứ mất ?

Biển có nhà không
Bạc đầu trắng sóng?
Cha có nhà không
Vuông hai thước đất?
Mẹ có nhà không
Cỏ gà gió bấc?

Mây không có nhà, mây rơi xuống đất? (Ảnh: akspic.com)

Ngôi nhà tiên tổ
Bây giờ còn đủ?
Đựng lời hát ru
Lẫn trong quên nhớ?
Ú u ù u…

Tôi nhớ nhà tôi
Thực ra tôi nhớ?
Tôi có nhà không
Nhà tôi đâu đó?
Tôi như cơn gió
Trống không hững hờ

Tôi nhớ nhà tôi, thực ra tôi nhớ? (Ảnh: wallpapersexpert.com)

Nhà tôi ở giữa
Rỗng trời gió mưa…
Tôi có nhà không
Tôi không phải gió!
Tôi chẳng là mây
Tôi quầng trăng tỏ!

Ngôi nhà ngói đỏ
Trên nền đất nâu
Của người đến trước
Và người đến sau?

Nguyễn Quốc Văn

 

 

Nguồn gốc câu thành ngữ ‘Nhất ngôn cửu đỉnh’: 3 tấc lưỡi đẩy lui trăm vạn hùng binh

Mọi người đều biết câu thành ngữ: “nhất ngôn cửu đỉnh”, ý nghĩa là lời nói rất có trọng lượng. Vậy vì sao lại ví với “cửu đỉnh”, và “nhất ngôn cửu đỉnh” có nguồn gốc như thế nào?

Mao Toại tự tiến cử bản thân, “nhất ngôn cửu đỉnh” ra đời từ đó

Trong thời kỳ Chiến Quốc, nước Tần tấn công nước Triệu ở Hàm Đan (kinh đô nước Triệu). Bình Nguyên Quân của nước Triệu đến nước Sở cầu viện, muốn liên kết với nước Sở để chống lại nước Tần. Bình Nguyên Quân muốn tuyển 20 môn khách cùng đến nước Sở để thuyết phục, nhưng tìm tới tìm lui chỉ tìm được 19 người, còn thiếu một người thì phải làm thế nào đây? Lúc ấy, có một người tên là Mao Toại tự tiến cử mình, Bình Nguyên Quân bèn thu nạp anh ta.

Đến nước Sở, Bình Nguyên Quân vẫn không có cách nào thuyết phục Sở Vương viện trợ nước Triệu. Cuối cùng Mao Toại cầm kiếm đi về phía trước, hướng đến Sở Vương phân tích tình thế với một phong thái chính nghĩa, lời nói trang nghiêm, khí thế hùng hồn; Sở Vương bèn đáp ứng việc thiết lập giao ước đồng minh với nước Triệu.

Bình Nguyên Quân sau khi trở về nước Triệu, nghĩ đến việc đã dùng cả một ngày mà không thể thuyết phục được Sở Vương, vậy mà Mao Toại chỉ với mấy câu mà khiến cho Sở Vương không nói được lời nào, mới tán thưởng Mao Toại rằng: “Mao tiên sinh đến Sở; mà khiến nước Triệu được tôn trọng nặng như cửu đỉnh, như chuông Đại Lữ. Mao tiên sinh dùng ba tấc lưỡi còn mạnh hơn cả trăm vạn hùng binh”.

Thành ngữ: “Nhất ngôn cửu đỉnh” chính là từ điển cố đó mà ra vậy.

Vì sao gọi là ‘cửu đỉnh’?

‘Đỉnh’ là vật dụng dùng để cúng tế Thần minh và tổ tiên (có dạng như chậu), cũng có thể là vật dụng để đựng thức ăn. Sau khi Đại Vũ trị thuỷ thành công, kiến lập nên vương triều nhà Hạ, đã chia thiên hạ thành chín châu (cửu châu) là: Kí, Duyện, Thanh, Kinh, Dương, Lương, Ung, Từ, Dự. Thêm vào đó, ông lệnh cho thuộc hạ thu thập đồng xanh (kim loại đồng) ở các châu, đúc thành chín đỉnh. Trên mỗi đỉnh có sông núi, con người, sản vật… của các châu được khắc lên đó. Cửu đỉnh đại biểu cho cửu châu, cũng chính là đại biểu cho thiên hạ.

Đại Vũ xem cửu đỉnh là bảo khí trấn quốc, là biểu tượng của vương quyền thiên tử. Nhưng bảo đỉnh trấn quốc này sau khi kinh qua ba triều đại là Hạ, Thương, Chu; trong thời kỳ nhà Tần diệt nhà Chu, có một bảo đỉnh đã lạc mất ở sông Tứ Thủy (nay thuộc Tế Ninh, Sơn Đông), tám cái còn lại lưu lạc ở đâu thì không rõ. Tần Thủy Hoàng và Hán Văn Đế đều từng nghĩ cách vớt bảo đỉnh từ Tứ Thủy, nhưng đều mất công vô ích. Cửu đỉnh chính là tiêu mất một cách thần bí như vậy.

(Ảnh minh họa: aboluowang)

Nhà Tần phát binh đến nhà Chu đoạt cửu đỉnh

Vào cuối triều đại nhà Chu, nước Tần phát binh hướng về Đông Chu, muốn đoạt cửu đỉnh của nhà Chu. Thiên tử nhà Chu lúc bấy giờ phái ‘Đại phu’ (một chức quan) là Nhan Suất hướng đến nước Tề để cầu trợ và phải đồng ý điều khoản là tặng cửu đỉnh cho Tề quốc.

Sau khi nước Tề phái binh đẩy lui quân Tần thì Tề Vương chuẩn bị đòi cửu đỉnh. Nhan Suất muốn phân tán ý định ấy của Tề Vương, bèn hỏi Tề Vương là muốn mượn một con đường nào đó để vận chuyển cửu đỉnh về Tề quốc. Kết quả là không có con đường nào đáp ứng được, vì Nhan Suất kể năm xưa sau khi Chu Võ Vương phạt Trụ lấy được cửu đỉnh xong, để vận chuyển một đỉnh phải dùng đến chín vạn người, cửu đỉnh phải mất tổng cộng là 81 vạn người! Dù Tề Vương có ngần ấy nhân lực, cũng không có con đường nào đủ rộng để có thể vận chuyển về nước Tề. Cuối cùng Tề Vương bãi bỏ việc ấy, cũng không đề cập đến chuyện vận chuyển cửu đỉnh nữa.

Tần Võ Vương ‘nâng đỉnh mà vỡ xương bánh chè’

Thời kỳ Chiến Quốc, Tần Võ Vương sau khi hạ thành Nghi Dương, đã trực tiếp tiến vào Lạc Dương, Thiên tử nhà Chu đích thân nghênh tiếp. Tần Võ Vương tiến tới tông miếu nhà Chu và thấy được chín cái đỉnh. Tần Võ Vương bản thân là người có sức lực phi phàm Trời cho, nên khi nhìn thấy đỉnh của Ủng Châu, ông muốn cùng đại lực sĩ Mạnh Thuyết so tài nâng đỉnh. Sau khi dùng hết sức nâng đỉnh lên khỏi mặt đất nửa thước thì đột nhiên tay ông không còn chút lực, cái đỉnh đó rơi xuống, đè lên chân của ông, làm chân ông bị vỡ nát, và ông chết ngay trong đêm đó.

Trong “Văn Tâm Điêu Long” quyển 18, Lưu Hiệp có nói rằng: “Một lời nói quý giá nặng hơn cửu đỉnh, ba tấc lưỡi hơn cả trăm vạn hùng binh”.

Mao Toại xuất ngôn, đã khiến Sở Vương xuất binh cứu Triệu. Lời nói của Nhan Suất đã thoái lui được thiên vạn địch quân, bảo hộ được cửu đỉnh. Thời Chiến Quốc binh mã loạn lạc, ‘nhất ngôn cửu đỉnh’ không chỉ yêu cầu trí tuệ đầy đủ, mà còn phải có đủ dũng khí. Tần Võ Vương dùng sức mạnh ngang ngược, cho rằng tự mình có thể đủ sức nâng đỉnh, kết quả chết nơi đất khách, trở thành trò cười cho thiên hạ.

Theo secretchina.com

Mạn Vũ biên dịch

 

Cội nguồn: Tiếng trống đồng vạn cổ, âm vang hồn Văn Lang

Phong Châu ngời đất Tổ
Chim Lạc Việt về nguồn
Tiếng trống đồng vạn cổ
Âm vang hồn Văn Lang

Trước ngực ôm biển cả
Sóng – Giao Long – trập trùng
Trên lưng gùi rừng núi
Gió – Hoàng Hạc – mênh mông.

Minh Dũng

 

Những cái chết “muôn đời bí ẩn” của vua chúa Việt Nam

Cái chết của nhiều bậc vua chúa Việt Nam gây ra những câu hỏi lớn mà đến nay vẫn chưa được giải đáp thấu đáo.

Vua Duy Tân bị thực dân Anh ám sát?

Vua Duy Tân (1900 – 1945) có tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh San, còn có tên khác là Nguyễn Phúc Hoảng, là vị vua thứ 11 của nhà Nguyễn, lên ngôi vào ngày 5.9.1907, lúc mới 7 tuổi, sau khi vua cha Thành Thái bị đưa đi quản thúc.

Vua Thành Thái có nhiều con trai, nhưng người Pháp đã chọn Vĩnh San làm người kế vị vì ông nhỏ tuổi và trông có vẻ “nhút nhát, đần độn”. Tuy nhiên, khi lên làm vua ông đã tỏ ra là một người có tư tưởng dân tộc, quyết đoán và không chịu lệ thuộc vào Pháp. Do chống lại người Pháp, ông đã bị đày đi đảo La Réunion ở Ấn Độ Dương cùng với vua cha Thành Thái vào năm 1916.
nhung cai chet “muon doi bi an” cua vua chua viet nam hinh anh 1                                    Vua Duy Tân lên ngôi khi mới 7 tuổi.

Trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 – 1945), vua Duy Tân gia nhập quân Đồng Minh chống phát xít Đức và được nhà lãnh đạo Charles de Gaulle của Pháp chú ý. Sau cuộc chiến, de Gaulle muốn đưa Duy Tân trở lại Đông Dương như một lá bài trong kế hoạch tái chiếm Đông Dương, trong khi ông cũng muốn lợi dụng de Gaulle để trở lại ngai vàng và từng bước củng cố độc lập dân tộc.

Nhưng kế hoạch chưa được thực hiện thì vào ngày 26.12.1945, ông tử nạn trong một vụ tai nạn máy bay bí ẩn ở Cộng hoà Trung Phi. Có giả thuyết cho rằng đây là âm mưu ám sát của người Anh, vì việc vua Duy Tân trở lại Việt Nam sẽ gây khó khăn cho Anh trong việc trao trả các thuộc địa.

Vua Kiến Phúc bị đầu độc?

Vua Kiến Phúc (1869 – 1884) có tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, là vị hoàng đế thứ 7 của nhà Nguyễn. Ông lên ngôi ngày 2.12.1883, khi 14 tuổi, tại vị được 8 tháng thì qua đời. Cái chết của ông để lại rất nhiều nghi vấn trong giới sử học.

Sử nhà Nguyễn chép vua Kiến Phúc mất vì bệnh. Viên Khâm sứ Pháp Rheinart cũng cho rằng nhà vua mất vì bệnh. Ông kể: “Cái chết của vua là một cái chết tự, nhưng nó đã đến một cách quá bất ngờ làm cho mọi người kinh ngạc… Trong một thời gian khá lâu nó không dậy nổi, tôi không biết nó có thể đứng lên mà không cần người đỡ không, từ lúc bị bệnh, nghĩa là từ ba tháng nay…”.

Tuy nhiên, có lời đồn rằng nhà vua chết là do Nguyễn Văn Tường đầu độc. Theo đó, bà Học Phi (vợ vua Tự Đức) là mẹ nuôi của Kiến Phúc, tư tình với Nguyễn Văn Tường. Nhân một hôm vua bệnh, ông Tường vào thăm có trò chuyện riêng với bà, bị vua nghe thấy. Ông Tường thấy có thể nguy hiểm liền xuống Thái y viện bốc một thang thuốc dâng vua uống, ngày hôm sau thì vua mất…

Ngoài ra, còn có giả thuyết hai vị Phụ chính Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường giết vua Kiến Phúc, tôn một vị vua nhỏ tuổi hơn (Hàm Nghi) để dễ việc nắm trọn quyền bính.

Hoàng đế Quang Trung bị Càn Long yểm bùa?

Vào tuổi tứ tuần, giữa lúc chuẩn bị mở một chiến dịch tổng lực để tiêu diệt liên minh Nguyễn Ánh – Pháp, hoàn thành việc thống nhất đất nước; đồng thời nỗ lực giành lại hai tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông từ nhà Thanh, hoàng đế Quang Trung (1753 – 1792) đột ngột băng hà. Biến cố này là một trong những nghi vấn lớn nhất của lịch sử Việt Nam. 
nhung cai chet “muon doi bi an” cua vua chua viet nam hinh anh 2                                           Tượng đài hoàng đế Quang Trung.

Theo chính sử nhà Nguyễn, hoàng đế Quang Trung chết vì một chứng bệnh kỳ bí, bắt đầu từ một cơn đột quỵ khiến ông rơi vào trạng thái mê man nhiều ngày. Chứng bệnh này được sử gia nhà Nguyễn giải thích như sự trừng phạt của thần thánh dành cho việc quân đội của ông đã xâm phạm các tôn lăng của chúa Nguyễn khi chiếm thành Phú Xuân (Huế).

Ngoài ra, còn một giả thuyết khá hoang đường khác về cái chết của vua Quang Trung, đó là ông đã bị trúng tà thuật từ chiếc áo bị yểm bùa do vua Càn Long của nhà Thanh ban tặng. Một biến thể của giả thuyết này là chiếc áo kể trên đã bị tẩm thuốc độc.

Nguyễn Thị Anh giết vua Lê Thái Tông?

Theo sử sách, ngày 4.8.1442, vua Lê Thái Tông (1423–1442) về Lệ Chi Viên cùng Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi, rất được nhà vua yêu. Tại đây, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ, rồi băng hà.

Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua. Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc và bị giết ít lâu sau đó. Đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông đã rửa oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước Tán Trù bá và bổ dụng người con còn sống sót của ông là Nguyễn Anh Vũ.

Sau này, nhiều sử gia đã tán đồng với giả thuyết cho rằng chủ mưu vụ án chính là Nguyễn Thị Anh – vợ thứ vua Lê Thái Tông.

Về động cơ, thứ nhất là do bà đã có sẵn tư thù với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Thứ hai là do thời đó, nhiều người trong triều dị nghị rằng Nguyễn Thị Anh đã có thai trước khi vào cung và Thái tử Bang Cơ không phải là con Vua Thái Tông, sợ Nguyễn Trãi gièm pha nên bà đã sai người sát hại vua rồi đổ tội cho vợ chồng Nguyễn Trãi.

Vua Trần Thái Tông biết trước ngày chết của mình?

Trần Thái Tông (1218 – 1277) là vị vua đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi hơn 32 năm (1225 – 1258), làm Thái thượng hoàng 19 năm. Cái chết của ông được Việt sử tiêu án ghi lại với màu sắc khá kỳ bí:

“Thái Tông đến nhà ngự, hốt nhiên thấy con rết leo lên áo, lấy tay gạt xuống đất, có tiếng kêu, trông ra là cái đinh sắt, nhân thế mới xem bói, nói rằng: Đó là điềm về năm Đinh. Lại đùa bảo Mặc Lão xem cho biết tốt hay xấu, Mặc Lão nói: Thấy có một cái rương vuông, bốn bên đều có chữ Nguyệt, trên rương có một cái kim, cái lược.

Vua Thái Tông giải nghĩa rằng: Rương là gỗ vuông, bốn bên đều có chữ nguyệt là bốn tháng. Cái kim có thể đâm vào vật gì, đó là đinh vào nằm trong gỗ, chữ sơ là cái lược đồng âm chữ sơ là xa nghĩa là xa nhau. Đương khi nói Vua đùa, có câu: Chóng đến mồng một sẽ có thay phiên. Vua xem quẻ nói rằng: “Đó là ngày mùng Một sẽ chết. Đến khi ấy quẻ đúng lời xem bói”.

Quả nhiên đúng như lời suy đoán, ngày mùng Một tháng tư năm Đinh Sửu (1277), Thượng hoàng Trần Thái Tông băng hà.

Dương Vân Nga và Lê Hoàn sát hại Vua Đinh Tiên Hoàng?

Sử sách chính thống của Việt Nam đều ghi rằng người giết chết Đinh Tiên Hoàng – vị vua sáng lập triều đại nhà Đinh, nước Đại Cồ Việt là hoạn quan Đỗ Thích. Sử chép rằng, viên quan này mơ thấy sao rơi vào miệng, tưởng là điềm báo được làm vua nên đã giết chết cả Đinh Tiên Hoàng và Thái tử Đinh Liễn.

Tuy vậy, nhiều sử gia cho rằng: Đỗ Thích chỉ là tấm bình phong che đậy cho thủ phạm thực sự, đó là tướng quân Lê Hoàn và thái hậu Dương Vân Nga.

Theo lý giải, việc Lê Hoàn làm Phó vương khi Đinh Toàn lên ngôi, cấm cố họ Đinh cùng với việc các trung thần chống đối có thể là biểu hiện cho thấy mưu đồ chiếm ngôi của Lê Hoàn. Hành động của Lê Hoàn nhiều khả năng đã có sự trợ giúp của Dương Vân Nga.

Dương Vân Nga, có thể giữa bà và các hoàng hậu khác (Tiên Hoàng có những 5 hoàng hậu) đã xảy ra cuộc đua giữa họ về tương lai của ngôi thái tử. Do yếu thế trong cuộc cạnh tranh này, Dương Vân Nga đã chọn Lê Hoàn làm chỗ dựa.

Theo Hoàng Phương (Kiến Thức)

 

 

 

Đọc nhiều

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài. Trong kiếp nhân sinh này, mỗi người đều có sự lựa...

Có gì ở bệnh viện đa khoa quốc tế hơn 20.000 m2 mới khai...

Vừa qua, tại Hà Nội có thêm một bệnh viện đa khoa quốc tế hiện đại đi vào hoạt động. Chỉ sau một thời...

Cập nhật dịch COVID-19 sáng 2/3: Số người tử vong trên thế giới tăng...

Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc (NHC) hôm nay (2/3) thông báo có thêm 42 ca tử vong vì COVID-19 trong ngày...

Mặc tin đồn hẹn hò ‘bủa vây’, Bích Phương diện đồ gợi cảm dự...

Bích Phương vô cùng quyến rũ trong tiệc sinh nhật của "soái ca" Đăng Khoa. Lẻ bóng “lâu năm”, dường như các fan hâm mộ...