Tín ngưỡng

Vì sao thời xưa con cái phải để tang 3 năm sau khi cha mẹ mất?

 

Theo tục xưa, trong khoảng ba năm thủ tang cha mẹ, con cái không thể lên kinh ứng thí, thậm chí còn không được ở trong nhà mà phải làm lều cỏ bên mộ phần cha mẹ để trông nom, chăm sóc. Đối với chúng ta ngày này, đây là việc ngoài sức tưởng tượng…

Cổ ngữ có câu: “Bách thiện hiếu vi tiên”, đối với cổ nhân mà nói thì trăm cái đức, ngàn cái hạnh cũng không có cái nào có thể sánh bì với việc thủ hiếu giữ đạo làm con. Ngay cả các bậc vua chúa cũng luôn thủ đạo hiếu con, lấy thân làm mẫu cho vạn dân noi theo. Ở đây có thể kể đến những bậc hiền nhân xưa như vua Trần Anh Tông. Vua Trần Anh Tông vốn dĩ ham mê uống rượu, nhưng vì một lần say rượu làm lỡ mất dự chầu, khi đó bị thái thượng hoàng Trần Nhân Tông trách phạt. Vua Trần Anh Tông phải quỳ gối và dâng biểu tạ tội kiểm điểm bản thân mới được tha lỗi. Và cũng kể từ đó, vua Trần Anh Tông quyết tâm không uống rượu nữa. Mặc dù ở ngôi cao, vua Trần Anh Tông vẫn tôn trọng đạo hiếu, tuân theo lời dạy bảo của cha.

Hay như vua Tự Đức, đây có lẽ là ông vua duy nhất bị mẹ đánh đòn trong lịch sử nước ta. Năm đó, vua Tự Đức đi săn, chẳng may gặp phải trận lụt bất ngờ, không thể về kịp lo liệu ngày kỵ của tiên hoàng Thiệu Trị. Sau khi về đến cung điện, nhà vua vội vàng đội mưa đến quỳ tạ tội với mẹ là thái hậu Từ Dũ. Ông còn chủ động dâng roi mây, nằm xuống chịu đòn.

Nói đến chữ hiếu, chúng ta cũng không thể không nhắc tới Nguyễn Trãi, ông là tấm gương trung hiếu vẹn toàn trong lịch sử. Khi cha là Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt, Nguyễn Trãi đi theo cha đến ải Nam Quan, muốn cùng cha sang tận Trung Quốc hầu hạ nhưng cha ông khuyên ông trở về lo mưu nghiệp lớn chống Minh. Nghe lời cha dặn, Nguyễn Trãi nếm mật nằm gai 16 năm ròng, sau này ông đã bày mưu tính kế, góp phần quan trọng giúp nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi.

Đối với người xưa, việc bất hiếu là một đại tội không thể dung thứ, việc hiếu kính cha mẹ không chỉ là việc chăm sóc cha mẹ chu đáo về tinh thần và vật chất khi còn sống mà bao gồm cả việc lo tang hậu sự cho cha mẹ khi đã mất.

Trong cuộc sống phong kiến xưa kia khi cha mẹ qua đời con cái phải thủ hiếu 3 năm, trong khoảng thời gian này tuyệt đối không được kết hôn. Các quan viên cũng phải từ quan về nhà thủ hiếu cha mẹ ba năm, gọi là “Đinh hiếu”.

Theo tục xưa, trong khoảng ba năm này con cái không thể lên kinh ứng thí, thậm chí còn không được ở trong nhà mà phải làm lều cỏ bên mộ phần cha mẹ để trông nom, chăm sóc. Có thể đối với ngày này việc này là việc ngoài sức tưởng tượng của chúng ta, tuy nhiên ngày xưa nó thậm chí còn được nghi vào pháp chế. Khi xưa, vua Chu Nguyên Chương khi đăng cơ đã quy định: “Trong ba năm tang chế, con cái không được ra ngoài gặp gỡ bằng hữu, phải mặc áo vải bố, mép vải thừa không được cắt tỉa, không được cắt tóc”.

Vì sao người xưa phải thủ tang giữ đạo ba năm sau khi cha mẹ khuất núi?
“Trong ba năm tang chế, con cái không được ra ngoài gặp gỡ bằng hữu, phải mặc áo vải bố, mép vải thừa không được cắt tỉa, không được cắt tóc”. (Ảnh: kknews.cc)

Vậy ý nghĩa sâu xa của việc thủ tang này ra sao?

Việc thủ hiếu ba năm của cổ nhân chủ yếu là mang hàm nghĩa hoàn ơn cha mẹ nuôi nấng sinh thành. Khi con cái sinh ra ba năm đầu, cha mẹ mới yên tâm để con cái rời xa vòng tay của mình mà chạy nhảy, đặc biệt thời xưa không có sữa để ăn ngoài, người mẹ phải nuôi con bằng sữa mẹ trong suốt ba năm. Vậy nên trong khoảng thời gian này cha mẹ phải vất vả bội phần, thức khuya dậy sớm chăm bẵm, cho con ăn, cho con ngủ, đêm hôm chăm sóc tã quần, thậm chí khi con tè dầm, đái dắt cha mẹ đã phải nhường con chỗ khô, mình nằm chỗ ướt.

Vì ơn sinh dưỡng của cha mẹ là không gì sánh nổi, thế nên sau khi cha mẹ mất, con cái phải thủ tang ba năm, đây cũng là ba năm hoàn nghĩa sinh thành chăm sóc khi xưa. Nếu như không thủ được lễ ba năm này thì sao có thể gọi là hiếu tử? Tuy nhiên theo sự thay đổi của xã hội, con người cũng ngày càng trở thành khác biệt, chữ hiếu ngày nay nó đã phần nào trở thành hình thức.

Kỳ thực, ba năm thủ hiếu này không chỉ là việc hoàn ân trả nghĩa cho cha mẹ mà còn là thời gian để con người cảnh tỉnh chính mình, có thời gian tĩnh tâm suy nghĩ về đường đời. Nó cũng như một lời nhắc nhở chúng ta rằng: Nhân sinh tại thế, sinh tử vô thường, đến đi vô định.

Khi một người có thể hiểu ra đời người sống tại thế gian, mọi thứ thật vô thường ngắn ngủi, họ sẽ suy nghĩ nghiêm túc hơn nữa về đường đời của mình, suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống, suy nghĩ về những bon chen được mất hơn thua trong cuộc đời, và từ đó thay đổi bản thân. Đua tranh danh lợi dẫu có được thì cũng lợi bất cập hại, khi nhắm mắt xuôi tay, tiền vàng danh vọng chẳng thể mang theo. Tuy nhiên việc làm ác, gây nghiệp thì phải hoàn trả, đó là điều không thể tránh, dẫu đời này không trả thì đời sau vẫn phải đền.

Vậy ý nghĩa sâu xa của việc thủ tang này ra sao?
Kỳ thực, ba năm thủ hiếu này không chỉ là việc hoàn ân trả nghĩa cho cha mẹ mà còn là thời gian để con người cảnh tỉnh chính mình… (Ảnh: 52jdyy.com)

Tăng Quốc Phiên là một danh thần nổi tiếng nhà Thanh, cả cuộc đời ông đã có vô số thành tựu, ông cũng đã viết rất nhiều sách gia huấn khuyên dạy thế nhân. Ông xứng đáng là bậc thánh nhân thời kỳ cận đại. Trước lúc cha ông mất, ông vốn dĩ cũng là bậc nho gia từ nhỏ đọc sách thánh hiền, hiểu được đạo lý nhân sinh. Tuy nhiên trong cuộc sống hàng ngày có nhiều lúc vẫn có hình bóng của một người mang đầy kiêu khí, dẫn tới ông đã đắc tội với không ít người.

Sau khi cha ông mất, ông từ quan về quê thủ hiếu ba năm, trong khoảng thời gian này ông đã thay đổi quan niệm sống của mình một cách nhanh chóng. Đối với việc đối nhân xử thế, ông luôn lấy nhẫn làm đầu, bao dung độ lượng cho người, trước khi ra quyết định một vấn đề nào đó ông luôn biết đứng từ góc độ của người khác mà quyết định. Không chỉ đối với người trên mà ngay cả kẻ dưới ông cũng hết mực tôn kính. Có thể nói ba năm thủ hiếu cha đã giúp ông thành tựu cuộc đời, trở thành bậc thánh nhân được tôn kính thiên cổ.

Việc thủ hiếu ân cha, nghĩa mẹ, đây không chỉ là việc đền ơn đáp nghĩa hai đấng sinh thành, mà còn là việc dạy bảo con cháu đời sau, giúp cho con cái hiểu được sâu sắc chữ hiếu là thế nào. Khi một người có thể thấm nhuần đạo hiếu thì đường đời ắt cũng sẽ thành công. Người có đạo hiếu chắc chắn sẽ là một người lương thiện, mà người lương thiện ắt sẽ ở hiền gặp lành, được trời đất chiếu cố, sẽ đường đường chính chính có chỗ đứng trong nhật nguyệt bao la này.

Tây Phong

Ngày rằm xá tội vong nhân trong ‘tháng cô hồn’ rốt cuộc có ý nghĩa gì?

“… cái mưa gì mà buồn không chịu được! Nó lai rai như muốn cứa vào thần kinh ta, nó tạnh một lát rồi lại mưa, mưa đều trên mái nhà, mưa đều trên bụi cây đồi cỏ, có lúc im phăng phắc nhưng có lúc lại trút xuống rào rào, rồi lại mưa đều đều, và cứ mưa như thế hết ngày ấy sang ngày khác hết đêm nọ sang đêm kia, chán không để đâu cho hết, mà rầu rĩ trong lòng không biết bao nhiêu” (“Thương nhớ mười hai” – Vũ Bằng).

Tháng 7 ta về, lòng người lại mênh mang đượm buồn theo cái sụt sùi của trời đất. Người xưa nói “Thiên nhân hợp nhất”, có lẽ vì thế mà trong cái tháng trời đất khóc thương này, người ta làm lễ Xá tội vong nhân.

Riêng tôi thì thấy tháng 7 không hẳn đã đáng buồn, bởi lẽ xưa nay, con người chỉ có thể hiểu được niềm vui sau khi trải qua nỗi buồn, và hiểu được lẽ sống từ kinh qua sự chết.

Nỗi bi thương trải dài từ dương gian đến cõi vô hình gợi nhắc ta về ý nghĩa kiếp nhân sinh

Thật tình, trải qua những ngày tháng 7 thê lương mịt mù gió mưa ảm đạm, người ta mới yêu hơn những ngày tháng 8 nắng vàng ươm như rót mật. Thiên nhiên khéo vẽ bức tranh tương phản giúp cái buồn càng buồn, cái vui lại càng vui hơn, như câu ca dao:

“Mưa tháng bảy gãy cành trám,

Nắng tháng tám rám quả bưởi”

Mưa ngâu tháng 7 nặng hạt dầm dề thê lương như đang muốn gửi gắm một điều gì. (Ảnh: Pinterest)

Và có trông thấy, có cảm thấy những mảnh linh hồn bơ vơ lạc loài trong một thời không khác, ta mới thấu hiểu ý nghĩa và sự trân quý của sinh mệnh con người. Cụ Nguyễn Du xưa đã mang cái bi thương từ dương gian đến âm phủ gói vào mấy vần thơ “Văn tế thập loại chúng sinh”.

“Đường bạch dương bóng chiều man mác,

Ngọn đường lê lác đác sương sa,

Lòng nào là chẳng thiết tha,

Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,

Có khôn thiêng phảng phất u minh,

Thương thay thập loại chúng sinh,

Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người”.

“Thập loại chúng sinh” ấy là ước lệ cho muôn vạn kiếp người, dù khi sống “màn loan trướng huệ”, “mũ cao áo rộng” oanh liệt, hay sa cơ thất thế, tù ngục oan khiên…, thì chết đi chỉ còn là những u hồn không nơi nương tựa. Cụ Tiên Điền không khỏi cảm thán xót xa:

“Còn chi ai quý ai hèn,

Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?”

Và:

“Sống thời tiền chảy bạc ròng,

Thác không đem được một đồng nào đi”.

Một khi đã lìa giã cõi đời, thì hết thảy công danh lợi lộc, ân oán tình thù đều chỉ còn như mây khói.

Sống thời tiền chảy bạc ròng, Thác không đem được một đồng nào đi. (Ảnh: Нят-Нам.ру)

Ấy thế nhưng, lẽ thường những người đang sống đều ngỡ như mình chẳng bao giờ chết. Thời nay, người ta tự trói mình vào “vô Thần luận”, cái gì không tận mắt thấy thì không tin, nên lại càng thiêu rụi cuộc đời mình trong danh – lợi – tình mà không lo tìm đường giải thoát. Nhưng ngay cả trong cái thời vô Thần luận lên ngôi, cái thời nhân danh khoa học phủ định tín ngưỡng, cái trực cảm sâu xa của hồn người không mất, nên Vũ Bằng mới viết ra những dòng văn như thế này:

Ấy là bởi vì mặc dầu đã bị tiêm nhiễm văn minh Hy Lạp, La-tinh, mặc dầu khoa học thét vào tai tôi rằng tin tưởng như thế là hủ bại, tôi vẫn không thể nào tẩy não được mà vẫn cứ “ngoan cố” tin rằng ngoài cái thế giới chúng ta đang sống hiện nay, còn một thế giới u huyền khác mà loài người chưa cứu xét được đến nơi đến chốn nhưng bởi vì “muốn cho xong chuyện” nên kết luận toạc ngay là “dị đoan” (“Thương nhớ mười hai” – Vũ Bằng).

Nguồn gốc lễ Xá tội vong nhân

Vì trong tâm thức dân gian, thế giới vô hình vẫn luôn tồn tại, nên ngày rằm Xá tội vong nhân vẫn còn giữ đến hôm nay. Thực ra, phong tục cúng quảy và hồi hướng phước cho thân nhân đã có từ thời Đức Phật (thế kỷ thứ sáu trước công nguyên) và được khuyến khích trong cộng đồng những người tin vào nhân quả nghiệp báo và sinh tử luân hồi trong những cảnh giới khác nhau. Sau khi đạo Phật truyền vào Việt Nam, trong sự tương giao với văn hoá bản địa cúng giỗ và thờ phụng tổ tiên, phong tục cúng quảy và hồi hướng phước cho người thân đã khuất được lưu truyền rộng rãi ở nước ta và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Vào thời Đức Phật còn tại thế, một hôm vua Bình Sa Vương (Bimbisara) nằm mộng thấy những chúng sinh đói khổ rách rưới đeo bám vào tường thành kêu khóc thảm thiết. Vốn là người giàu lòng từ bi, nhà vua rất xúc động và thỉnh giáo Đức Phật xem họ là ai và phải làm gì để cho họ bớt khổ? Đức Phật cho nhà vua biết các chúng sinh đó là những thân bằng, quyến thuộc của vua trong quá khứ xa xôi.

Họ do vì kém duyên phước, khi sống chỉ biết tranh giành hơn thua, vun vén cho bản thân để sống qua ngày mà không biết làm phước, không được học đạo và không sống có đạo, không biết chia sẻ, không biết quan tâm đến tha nhân, v.v. nên sau khi thân hoại mạng chung ở cảnh giới con người, phải thọ sinh vào những cảnh giới đau khổ.

Những chúng sinh xuất hiện trong giấc mơ của đức vua đã bị kẹt trong cảnh giới đó nhiều trăm năm, nhiều triệu năm, từ thời đức Phật Ca Diếp và cho đến khi Đức Phật Thích Ca xuất hiện trên thế gian, họ mới có cơ hội được tạm thời xuất hiện. Cũng vì nhân duyên một thân bằng quyến thuộc trong quá khứ của họ nay là đức vua Bình Sa Vương là người biết đạo và có khả năng làm phước hồi hướng công đức cho họ, nên họ xuất hiện cho ông biết để xin cứu giúp.

Đức Phật với tâm đại bi chiếu cái nhìn thanh tịnh vào nhân gian và thấy rằng các thân bằng quyến thuộc đã quá vãng thường đến nhà thân nhân. Họ đứng tựa vách hay ngoài cửa, đứng ở ngã ba đường hay ở cổng thành, mong mỏi người thân của họ nhận ra và làm phước nhân danh họ để họ có động lực vượt thoát khổ cảnh.

Đại Kỷ Nguyên -
Những linh hồn vì kém duyên phước, kiếp trước nghiệp ác quá sâu mà lay lắt kẹt trong một cảnh giới không siêu thoát. (Ảnh: drukpa)

Dựa vào người, chi bằng hãy dựa vào bản thân mình

Tuy rằng phước đức do người thân hồi hướng cho có thể khởi phần nào tác dụng, nhưng trong dòng xoáy bất tận của luân hồi, nghiệp lực do ai gây ra thì chính người đó phải hoàn trả, làm ác đoạ vào đường ác, làm thiện thăng lên cõi lành. Vậy nên, phải chăng mỗi một người còn sống nên nhìn vào các vong hồn khốn khổ mà biết sợ, biết tự chuẩn bị cho ngày sau.

“Chuẩn bị” ở đây không phải là xây cất lăng tẩm nguy nga, hay nhắn nhủ cháu con đốt vàng mã nhà lầu xe hơi để nhận lại nơi suối vàng. Mà là sự chuẩn bị sáng suốt sau khi thấu triệt quy luật nhân quả luân hồi, chuẩn bị phước lành từ những việc làm thiện, lời nói thiện và ý nghĩ thiện. Người xưa nói: “Tích đức hành thiện”, không phải là triết lý suông, mà quả thật là cách chuẩn bị vững chắc nhất cho tương lai vậy.

Thanh Ngọc

Ở địa ngục, Diêm Vương có một chiếc gương soi nghiệp kỳ lạ để xét xử linh hồn

Trong nhà ai cũng đều có ít nhất một chiếc gương soi để làm duyên, làm dáng, chỉn chu lại trang phục, dáng vẻ của mình. Nhưng ít người biết rằng ở cõi địa ngục cũng có một chiếc gương khác đầy huyền bí. 

Tương truyền nó được gọi là “gương soi nghiệp”, chuyên dùng để soi chiếu nội tâm của con người, xưa nay vô cùng chuẩn xác. Ai cố tình làm việc xấu đều bị soi thấy, còn nếu chỉ là vô ý thì chiếc gương này sẽ không soi ra.

Cuộc hội ngộ bất ngờ với người bạn đã khuất

Trời nắng chang chang như đổ lửa, một mình Chu Giới Như lóp ngóp dưới cánh đồng không một bóng người. Xung quanh cũng chẳng có lấy một bóng cây để ông có thể trú chân. Ông nheo mắt ngước nhìn mặt trời đang lên chính Ngọ, khẽ lấy vạt khăn lau vội những giọt mồ hôi rơi lã chã như tắm.

Đúng giữa Ngọ (12h trưa), ông cũng đã thấm mệt, bụng réo ào ào, chân tay bủn rủn, rã rời như người bị tháo khớp. Ông men theo con đê đất đỏ quạch, bước thấp bước cao, định bụng về nhà ăn miếng cơm lót dạ. Nhưng đi mãi vẫn chưa về đến nhà. Đột nhiên ông thấy đầu mình quay như chong chóng, chẳng còn phân biệt được Đông Nam Tây Bắc. Trời đất chao đảo, quay cuồng trước mặt, rồi ông ngã xuống, ngất lịm giữa con đường vắng vẻ.

Đến tờ mờ tối ông mở mắt ra thì thấy mình vẫn nằm nguyên chỗ đó. Xung quanh vẫn là đồng không mông quạnh bát ngát, gió thổi mát mẻ, vi vu, vô cùng êm ái và dễ chịu. Nhìn tứ phía chẳng thấy một con đường nào, ông loay hoay không biết phải đi đâu về đâu. Đột nhiên ông nhìn thấy xa xa có mấy chục người đang tiến về phía trước, bèn bám theo sau.

Những người này thật kỳ lạ! Nam nữ, già trẻ lớn bé, giàu nghèo, sang hèn đều có cả. Không hiểu là họ đang rủ nhau đi đâu mà ai nấy mặt buồn rười rượi, chẳng nói chẳng rằng. Mà họ đi thật nhẹ, cứ như lướt trên mặt đất, ông phải chạy hụt cả hơi mới theo kịp. Đàn bà con gái thì xõa tóc che gần kín khuôn mặt.

Ông cố bắt chuyện chào hỏi với mấy người trong số họ, nhưng chẳng ai thèm trả lời như không nghe thấy ông nói. Chu Giới Như rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, ở lại không xong mà đi cũng chẳng đành. Trời ngày càng tối hơn, nếu ở lại đây thì lát nữa trời tối hẳn ông biết phải xoay sở thế nào. Thế là ông đành lặng lẽ đi theo họ.

Mọi người đi tới một nha môn, ông cũng nối gót theo vào. Ông choáng ngợp trước cung điện rộng mênh mông. Hai bên trái, phải đều là những dãy hành lang quanh co, chạy dài tít tắp. Lúc này trời đã tối hẳn. Những chiếc đèn lồng đo đỏ, đung đưa theo dãy hành lang.

Chu Giới Như bỗng thấy ơn ớn lạnh, nơi này có vẻ âm khí nặng nề. Tiểu lại, sai nha trong bộ trang phục cổ xưa cứ chạy đôn chạy đáo, dường như đang hối hả nghênh giá một vị đại quan nào đó vào an tọa trong đại điện.

Hai bên trái, phải đều là những dãy hành lang quanh co, chạy dài tít tắp.

Ông đang nhớn nhác nhìn quanh thì đột nhiên thấy một cánh tay nắm chặt lấy vai mình. Ông giật mình thảng thốt quay đầu nhìn thì nghe người kia hỏi: “Sao ông lại tới đây?

Phải mất vài giây Chu Giới Như mới định thần lại được. Ông đưa mắt nhìn thì hóa ra là Trương Hằng Chiếu, một người bạn của ông. Nhưng thật lạ lùng, chẳng phải ông ấy đã mất được mấy năm rồi sao? Sao lại có duyên hội ngộ ở nơi này? Chẳng lẽ, chẳng lẽ đây là… Ông giật bắn người sợ hãi, tim như sắp rơi ra khỏi lồng ngực, toàn thân run rẩy.

Ông chợt nhớ lại bóng dáng dật dờ của đám người khi nãy, một luồng hơi lạnh toát chạy dọc khắp sống lưng. Bảo sao nơi này âm u, tịch mịch, âm khí nặng nề, ngột ngạt đến vậy! Đèn lồng đỏ lập lòe, dập dờn như ma trơi. Lúc này ông mới biết đây là địa phủ. Suýt chút nữa thì ông ngất lịm. Trương Hằng Chiếu nhìn ông mỉm cười bảo: “Ông đừng sợ! Hãy bình tĩnh lại nào”.

Trương Hằng Chiếu tiếp lời: “Thi thoảng cũng có một vài linh hồn của người sống đi lạc tới đây. Diêm Vương có gặp cũng không trách tội ông đâu, nhưng e rằng khó tránh khỏi sẽ bị truy hỏi vài câu. Chi bằng ông ngồi trong sảnh, đợi khi thoái đường tôi sẽ tiễn ông đi. Tôi cũng muốn hỏi thăm xem chuyện nhà cửa nhà tôi dạo này thế nào”.

Cuộc phán xử kỳ lạ và chiếc gương soi nghiệp của Diêm Vương

Chu Giới Như ngồi chưa ấm chỗ thì Diêm Vương đã thăng đường. Ông lén nhìn qua khe cửa, thì thấy mấy chục người cùng đi với ông ban nãy đều lần lượt bị thẩm vấn nhưng nghe không rõ họ nói gì. Chỉ thấy người thì chau mày ủ rột, người lại rưng rưng muốn khóc, người thì nước mắt lưng tròng. Nhưng cũng có người trông rất điềm nhiên, có người lại khẽ mỉm cười. Có lẽ lúc này công tội phân minh, ai nấy đều có những vui buồn đan xen lẫn lộn với nhau. Sau đây, mỗi người lại tiếp tục một cuộc hành trình mới sướng khổ khác nhau.

Lại thấy một người đàn ông cao lớn, lông mày hất ngược lên trên, trông rất dữ tợn. Ông này có vẻ như đã từng làm quan lớn hay đại gia tại dương gian. Ông rất hiên ngang, một mực hùng hổ tranh biện với Diêm Vương, dường như không phục với tội danh mà Diêm Vương phán xét cho mình.

Diêm Vương nhấc cánh tay lên khỏi mặt bàn, xua tay một cái, từ bên trái cung điện đột nhiên xuất hiện một chiếc gương to đùng, dài hơn một trượng (chừng 3,33m). Đó là một chiếc gương hình bầu dục được bao quanh bởi một vầng sáng, nhìn vào trong thấy cả vũ trụ bao la, thăm thẳm. Những vì tinh tú đang xoay chuyển giữa các hành tinh. Kỳ lạ là chiếc gương ấy không hề có giá đỡ mà vẫn cứ lơ lửng trên không.

Diêm Vương nhìn thẳng vào người đàn ông nọ, quát lớn: “Ngươi có biết cô gái này không?”. Người đàn ông nhìn chằm chằm vào chiếc gương. Trong gương xuất hiện một a hoàn còn khá trẻ, tay bị trói ngược ra phía sau. Vẻ mặt khiếp sợ lộ rõ trên khuôn mặt non nớt của cô. Chiếc roi da liên tiếp quật vun vút vào da thịt, vào mặt, vào cổ, vào bất cứ chỗ nào trên người cô một cách lạnh lùng.

Cô gái kêu lên đau đớn. Chiếc roi quật rách quần áo cô, có thể thấy vài nơi trên cơ thể cô đã hằn đỏ và tím bầm như những vệt máu lớn. Ai nấy đều kinh sợ không hiểu cô a hoàn này đã làm điều gì sai trái mà bị ông chủ đánh đập tàn nhẫn tới mức như vậy.

Lúc này Diêm Vương mới lên tiếng: “Sao ngươi lại đánh đập con cái người ta ra nông nỗi này?”. Người đàn ông đáp: “Nó là a hoàn nhà ta. Nó đánh vỡ chiếc bình ngọc mà ta tốn mấy nghìn lạng bạc mới mua về được. Chịu tội như vậy là đáng lắm”. Y vẫn vênh mặt, không chịu khuất phục.

Diêm Vương nói: “Được, nếu ngươi còn chưa phục, thì hãy xem đây!”. Diêm Vương lại vung vạt áo lên. Một tia chớp vụt lóe lên, trong chiếc gương hiện ra cảnh một cô gái xinh đẹp đang thổn thức trên giường vì bị làm nhục. Lúc này người đàn ông biết không thể chối cãi được những tội lỗi do mình gây ra, bèn cúi đầu nhận tội.

Chiếc gương soi nghiệp của Diêm Vương. Ảnh dẫn theo diangucduky.blogspot.sg

Diêm Vương cho sai nha lôi người đàn ông ra ngoài. Những người có mặt tại đó ai nấy đều sợ xanh mặt. Không ngờ nhiều chuyện cứ ngỡ rằng chỉ có mình mình biết, quỷ thần không hay, mà nay lại hiện ra rõ mồn một như giữa thanh thiên bạch nhật.

Một lúc sau thì thoái đường, Trương Hằng Chiếu tới hỏi tình hình con cháu trong nhà. Chu Giới Như nói sơ qua vài lời thì Trương Hằng Chiếu đã xua tay mà rằng: “Thôi ông đừng nói nữa, chỉ khiến tâm thêm phiền, ý thêm loạn”.

Chu Giới Như hỏi: “Chiếc gương ban nãy có phải là “gương soi nghiệp” không?”. Trương Hằng Chiếu nói: “Đúng vậy”. Chu Giới Như lại hỏi: “Gương bình thường chỉ soi được hình ảnh đứng trước nó. Cái gương này sao lại có thể soi ra được cả những sự việc đã làm trong đời như vậy?”.

Trương Hằng Chiếu nói: “Gương của con người chỉ soi được hình ảnh, cơ thể bên ngoài. Còn gương Thần lại soi được những thứ ẩn sâu trong tâm họ. Khi người ta làm việc gì đó, thiện hay ác trong tâm đều minh bạch cả. Một khi đã minh bạch rồi thì trong tâm sẽ luôn nghĩ tới điều này. Trong tâm luôn nghĩ tới chuyện này thì sẽ lưu lại hình ảnh về chuyện ấy. Cho nên chỉ cần soi một cái là toàn bộ hiện ra hết. Nếu vô tình phạm lỗi, bản thân họ cũng không hay biết thì không thể soi thấy. Bởi vì họ sẽ không để tâm tới chuyện ấy nên cũng không có hình ảnh của chuyện đó lưu lại trong ký ức. 

Diêm vương khi xử án tại địa phủ chỉ nhìn vào tâm của con người, xem việc đó là vô tình hay cố ý, rồi từ đó mới phân ra thiện – ác. Ông phải minh bạch được điều này. Nên ngay khi chưa thực sự làm một việc xấu ác nào đó, chỉ mới nghĩ tới nó thôi, thì âm gian đã ghi lại, không hề bỏ sót. Mai này khi hồn lìa khỏi xác, Diêm Vương sẽ dựa vào nghiệp ác và nghiệp thiện họ đã làm tại dương gian, mà phân xử xem linh hồn tiếp tục chịu tội hay được đi hưởng phúc”. 

Giới Như lại hỏi gương Thần vì sao có thể soi được nhân tâm? Trương Hằng Chiếu đáp rằng: “Tâm là thứ vô hình, mắt người không nhìn thấy được. Nó chỉ có thể hiển hiện nhờ vào một vật dụng nào đó. Khi con người chết đi, thân thể và linh hồn của con người sẽ tách nhau ra. Thân thể sẽ thối rữa và biến mất, nhưng linh hồn thì vẫn tồn tại. Nó giống như ngọn đèn sáng lấp lánh, bên ngoài không có bóng đen che khuất, bên trong cũng trống rỗng trong suốt, cả trong và ngoài đều một màu trắng muốt, lấp lánh. Cho nên chỉ cần có một vài gợn nhỏ, dẫu chỉ như một hạt bụi thì cũng đều hiện ra rất rõ ràng”. 

Trương Hằng Chiếu vừa nói xong thì một đám sai nha lại rộn ràng đi tới. Ông vội vàng kéo Chu Giới Như nấp vào một góc, đợi đám người kia đi qua, hai người mới ló mặt ra.

Trương Hằng Chiếu nói: “Ông hãy sớm trở về với thân xác của mình đi. Một lúc ở đây đã bằng mấy ngày trên dương gian rồi đó. Nếu không mau mau trở về, người nhà sẽ mang thi thể ông đi mai táng. Lúc ấy có muốn quay đầu về cũng không kịp”. Chu Giới Như khẽ gật đầu, im lặng đi theo Trương Hằng Chiếu.

Họ đi vào một hoa viên, rồi rẽ cửa sau ra ngoài, đi mãi đi mãi, rẽ hết hành lang này, lại quành sang hàng lang khác. Những chiếc đèn lồng đỏ vẫn đung đưa theo gió, lập lòe như bóng ma trơi. Cuối cùng họ cũng đến một cái giếng cổ. Trương Hằng Chiếu lật nắp giếng lên, cầm tay Chu Giới Như, khóe mắt rưng rưng, nói không nên lời:

Tôi chỉ có thể tiễn ông tới đây thôi. Ông hãy bảo trọng! Ông có thể kể về những điều ông chứng kiến tại đây để khuyên răn con người thế gian hãy đối xử tốt với người khác. Vì hại người trước sau lại là hại chính mình, đối xử tốt với người khác thì sau này nhắm mắt xuôi tay mới có chốn tốt mà dung thân”.

Chu Giới Như đột nhiên cảm thấy như có một cơn lốc từ chiếc giếng nổi lên, cuốn ông vào trong. Ông chỉ kịp nhìn thấy giọt nước mắt của người bạn rớt xuống, vẻ bịn rịn không muốn rời xa. Cơ thể ông nhẹ như chiếc lông hồng, khi cao khi thấp, cuộn theo vòng xoáy sâu hun hút của cơn lốc. Đột nhiên ông nhìn thấy ánh sáng chói mắt, lấy tay che khuôn mặt thì đã thấy mình ngã đánh bịch một cái xuống mặt đất.

Ông thức giấc thì thấy mình đang nằm trên giường. Vợ con, bạn bè, thân quyến vây quanh. Ai nấy đều mừng mừng tủi tủi, cảm tạ Thần Phật thương xót đưa ông từ cõi chết trở về.

Cơ thể Chu Giới nhẹ như chiếc lông hồng, khi cao khi thấp, cuộn theo vòng xoáy sâu hun hút của cơn lốc trở về dương gian. (Ảnh dẫn theo Playbuzz)

***

Tại nhân gian muốn đo lường tốt xấu chỉ có thể nhìn vào hành vi của con người. Nhưng tại địa ngục tiêu chuẩn đo lường thiện ác lại là xét xem họ vô tình hay cố ý, chính là nhìn vào nhân tâm. Nếu vô tình gây nghiệp ác, tổn hại tới người khác, tội nghiệp của họ cũng nhẹ nhàng hơn, có cơ hội được Diêm Vương lượng thứ. Nhưng nếu cố ý hành ác, giành giật lợi ích cho bản thân, giết người hại mệnh thì sẽ được nhận lại hậu quả gấp bội dưới âm tào.

Con người nhìn vào hành vi bề mặt còn Thần Phật lại chỉ xét đến nhân tâm. Đó là lý do vì sao nhiều người luôn thắc mắc: “Tôi bái Phật thành kính, dâng hương lễ chùa, cúng dường tam bảo đầy đủ, thành tâm. Nhưng sao lúc nào tôi cũng gặp trắc trở, cũng chẳng thấy được Thần Phật phù hộ chút gì?“.

Thần Phật không cần mâm cao cỗ đầy cúng lễ ra sao. Thần Phật nhìn vào nhân tâm hướng thiện, cần người ta hành thiện tích đức, lấy Thiện đãi người, một lòng ngưỡng vọng với thần linh.

Hòa thượng tu luyện trong chùa và người tu giữa xã hội đời thường là khác nhau về hình thức bên ngoài. Nhưng Thần Phật cũng chỉ nhìn tới nhân tâm của họ mà thôi. Đó là tiêu chuẩn lớn nhất để đo lường sự thành kính với thần linh, sự kiên định, chân chính với con đường tu Đạo.

Theo Đại Kỷ Nguyên tiếng Trung
Nhã Văn biên dịch

Đọc nhiều

Mặc tin đồn hẹn hò ‘bủa vây’, Bích Phương diện đồ gợi cảm dự...

Bích Phương vô cùng quyến rũ trong tiệc sinh nhật của "soái ca" Đăng Khoa. Lẻ bóng “lâu năm”, dường như các fan hâm mộ...

Rác thải của con người đã ô nhiễm đến nơi tận cùng của Trái...

Một nhà thám hiểm người Mỹ đã lái tàu ngầm xuống vùng biển sâu nhất dưới đáy đại dương. Bên cạnh những khám phá...

Em chỉ muốn cùng anh một lần!

Lần đầu gặp mặt, Hân ngỡ ngàng khi “đối tượng” là một thanh niên mặt búng ra sữa. Thế nhưng, hắn luôn mồm xưng...

PGS.TS Bùi Hiền “trình làng” bộ câu đối Tết bằng ngôn ngữ “Tiếw Việt”

Những câu đối bình thường ai cũng biết đã được PGS.TS Bùi Hiền viết lại theo bảng chữ cái do ông sáng tạo từng...