Tư tưởng Phật học

Nhân gieo tiền kiếp nay gặt quả, trả nợ là xong… sao trách than?

Thôi kệ… quản chi chuyện xa xôi
Ai có phận nấy của họ rồi…
Quan hệ nhân duyên ta không tỏ
Cưỡng cầu vô nghĩa tạo nghiệp thôi

Thôi kệ… màng chi chuyện lợi danh
Hơn thua tranh đoạt… có để dành?
Càng cố…càng tạo thêm nhiều nghiệp
Liệu mang theo gì kiếp lai sinh?

Càng cố…càng tạo thêm nhiều nghiệp. Liệu mang theo gì kiếp lai sinh? (Ảnh: pinterest.com)

Thôi kệ… trách chi chuyện trái ngang
Quả đắng, quả cay…quả bẽ bàng
Nhân gieo tiền kiếp nay gặt quả
Trả nợ cho xong… sao trách than?

Nhân gieo tiền kiếp nay gặt quả. Trả nợ cho xong….sao trách than? (Ảnh: pinterest.com)

Thôi kệ…chân tướng chẳng hiển minh
Nói xong họ lại nhạo cười mình
Tương lai… của họ tuỳ họ chọn…
Gắng sức giảng rõ cứu chúng sinh

Thôi kệ…ai đắc người ấy tu…
Giáo đa thành oán…lại thêm thù
Hãy để tự nhiên…mà xem nhẹ
Vô vi…cảnh giới…ấy mà tu…!

Hãy để tự nhiên…mà xem nhẹ. Vô vi…cảnh giới…ấy mà tu…! (Ảnh: Hoavouu)

THP

 

 

Sinh, lão, bệnh, tử kiếp này. Khi đi tay trắng, trắng tay lúc về…

Đóa Sen nở giữa lưng trời,
Cánh hồng thắm, nhụy vàng tươi, thơm lừng.
Ong mang phấn nắng bay sang,
Quả vàng lúc lỉu, mỡ màng quanh thân.
Tít cao tấu  nhạc, ve ngân,
Đám mây trắng. Lặng. Tần ngần. Đung đưa …
Búp cành xao đốm lưa thưa ,
Vừa chợt nghĩ, ai đã vừa lộ ra…
Một làn rười rượi thoáng qua,
Ngàn muôn thuyền đỏ giáng sa từ trời.
Vô Ưu nở, Vô Ưu rơi.

Đóa Sen nở giữa lưng trời. Cánh hồng thắm, nhụy vàng tươi, thơm lừng. (Ảnh: dkn.tv)

Sáng sung mãn, chiều tả tơi thảm dày…
Lão, Bệnh, Tử; cõi kiếp này,
Khi đi tay trắng; trắng tay lúc về.
Cõi Phù Sinh, ấy Kiếp Mê,
Rụng bao thuyền nữa, lê thê cánh hồng?
Cho ta một cánh phiêu bồng,
Đi về bên ấy. Cõi Không đang chờ.
Sala thơm nức giấc trưa,
Đại Giác Giả! Ngài cũng vừa đến đây?
Ai vừa buông thõng cánh tay,
Sợi Ưu Đàm nở. Thuyền bay phía Trời…

Anh Vũ

 

 

Kiếp này được Phật độ, ta đã tỏ đường về…

Ta hiên ngang trước gió bão mưa giông
Đâu nào sợ những ngông cuồng chớp giật
Tiếng thét gào chốn kia vẫn vang vọng
Cuối con đường thiện ác kết phân minh.

Chông gai kia chẳng khiến lòng chới với
Con đường này ai cũng phải kinh qua
Phía cuối đường ai đang chờ ta
Làm sao cản được những bàn chân sắt đá.

Ta đã đi qua những núi danh biển tình
Đơn giản vì thuyền vàng kim đang đợi
Có vị Đại Phật với nụ cười từ bi hồng đại
Từng phút giây đánh thức khỏi cơn mê…

Phía cuối đường ai đang chờ ta. Làm sao cản những bàn chân sắt đá. (Ảnh: Wikipedia.org)

Khúc khải hoàn tấu nhịp say mê
Mừng khôn xiết những kiếp người được cứu
Vở kịch kết, về cố hương kỳ diệu
Gặp lại người xưa trong thế giới huy hoàng.

Giấc mộng tam giới một cái kết đã tan
Vũ trụ này đang được ai dẫn bước
Ai đang miệt mài vận chuyển càn khôn
Chính lại hết thảy các tầng trời rộng lớn…?

Thiên Ân

 

Hủy Pháp diệt Phật, báo ứng thảm khốc

Trong văn hóa truyền thống mọi người đều tin rằng “Thiện có thiện báo, ác có ác báo”. Một vị huyện lệnh triều Đường cả đời đã làm rất nhiều việc xấu, nhưng Diêm Vương không những không trừng phạt mà còn kéo dài tuổi thọ cho ông ta thêm 30 năm. Việc này rốt cuộc là như thế nào?

Bảo hộ Phật đường, lập công chuộc tội được thiện báo

Câu chuyện này được ghi chép trong “Thái Bình quảng ký”. Năm Khai Nguyên thứ 15 triều Đường (năm 727), hoàng đế hạ lệnh tất cả các Phật đường trong các thôn phường khắp thiên hạ, những Phật đường nào nhỏ thì đều nhất loạt tháo dỡ, Phật đường to thì toàn bộ phải đóng cửa. Rất nhiều người không tín Phật nghe thấy thế liền hành động, một số chùa Phật lớn và tượng Phật cũng bị hủy hoại.

Huyện lệnh huyện Tân Tức, Dự Châu là Lý Hư, ông là người cứng rắn, tự phụ, tính tình nóng nảy lại thích sát nhân, hành xử thường trái với đạo nghĩa, lại còn thích uống rượu. Hôm đó ông ta đang uống rượu say túy lúy thì công văn châu phủ truyền đến, yêu cầu ông ta trong vòng 3 ngày phải phá hủy toàn bộ chùa chiền trong địa hạt quản lý. Lý Hư thấy vậy liền nổi giận, liền hạ lệnh cho quan lại thuộc hạ rằng: “Trong địa hạt ta quản lý, nếu có người nào dám phá Phật đường thì nhất loạt đều xử tử”.

Vì vậy toàn bộ Phật đường ở địa hạt huyện Tân Tức đã được bảo toàn nguyên vẹn.

Thực ra lúc đó không phải là trân quý chùa chiền, bởi vì thời hạn quá ngắn nên ông cảm thấy phẫn nộ, liền nhất quyết bảo toàn Phật đường. Sau đó ông ta cũng không để tâm đến việc này nữa.

Một năm sau, Lý Hư bệnh qua đời. Người nhà đưa ông vào quan tài chuẩn bị hôm sau mai táng. Đêm đó khi người nhà đang vây quanh quan tài khóc lóc, đến nửa đêm bỗng nghe thấy tiếng gõ đập trong quan tài. Người nhà mở ra xem, thì ra Lý Hư đã sống lại rồi. Sau đó Lý Hư kể lại sự tình ông đã trải qua dưới âm phủ.

Lý Hư đến điện Diêm Vương, Diêm Vương lệnh cho thư lại lấy sổ thiện ác của Lý Hư. Vừa xem sổ thiện ác, Diêm Vương thấy tội lỗi chồng chất liền muốn dùng nhục hình trừng phạt. Lý Hư rất sợ hãi vội vàng nói: “Năm ngoái hoàng đế giáng chỉ lệnh cho các địa phương phá dỡ Phật đường, phá hủy tượng Phật, chỉ có khu vực con quản lý là không phá hủy Phật đường. Không biết công đức này có thể tiêu trừ được tội nghiệp không?”.

Diêm Vương kinh ngạc lệnh cho thư lại đem số phúc đức ra tra xem.

Thư lại đem sổ phúc đức đến, trong đó có ghi chép việc thiện cực kỳ ít, chỉ có một trang giấy, bèn đọc to: “Năm ngoái có thánh chỉ hạ lệnh tháo dỡ Phật đường, duy chỉ có Phật đường ở huyện Tân Tức là được bảo toàn. Thế nên tiêu trừ được tội lỗi cả cuộc đời, đồng thời kéo dài tuổi thọ thêm 30 năm, sau đó chuyển sinh làm người”.

Thư lại vừa dứt lời thì quyển sổ tội dày cộp đó bỗng bị cháy sạch. Diêm Vương liền cho Lý Hư trở về, thế là ông ta liền sống lại.

(Ảnh minh họa: ivsky.com)

Việc thiện bảo vệ Phật đường của Lý Hư không chỉ bù đắp được tất cả những việc xấu ông đã làm xưa nay mà con được kéo dài tuổi thọ thêm 30 năm. Vậy thì nếu có người hủy Phật diệt Pháp thì kết cục của họ sẽ như thế nào?

Hủy Pháp diệt Phật, tội nghiệp trả không hết

Thôi Hạo là đại thần chức cao quyền trọng, làm quan đến chức tư đồ. Ông học rộng đa tài, tài năng thao lược xuất chúng, Ngụy Thái Vũ Đế luôn nghe theo mưu kế của ông. Một hôm Thôi Hạo tháp tùng Thái Vũ Đế đến Trường An. Sau khi vào một ngôi chùa thờ Phật, thấy trong chùa có các vũ khí như cung tên, đao thuẫn, Thái Vũ Đế không để cho người ta phân bua liền hạ lệnh đem tất cả tăng nhân trong chùa ra giết hết. Thôi Hạo thừa cơ nói: “Nên giết hết tất cả tăng nhân đi, thiêu hủy hết tất cả tượng Phật và kinh Phật”.

Thái Vũ Đế liền nghe theo lời kiến nghị của Thôi Hạo, ra lệnh cho toàn quốc đều làm như thế.

Bốn năm sau, vào năm Thái Bình Chân Quân thứ 11, Thôi Hạo vì phạm lỗi nhỏ đắc tội với Thái Vũ Đế, kết quả bị phán tội chết, đồng thời bị tru di cửu tộc, gia tộc bị diệt sạch. Trước khi bị hành hình, Thôi Hạo bị tống giam vào xe tù, cai ngục sai 10 người đứng lên xe đổ nước tiểu vào miệng ông ta, cứ như thế đi mấy dặm. Thôi Hạo ở trong xe tù khổ không chịu nổi, kêu khóc không ngừng. Thôi Hạo lần lượt chịu 5 loại hình phạt là đánh roi, đánh gậy, chân trần đi đường, lưu đày và xử tử. Đây là những nhục nhã mà người bị xử tử hình từ xưa đến nay chưa từng phải chịu đựng.

Sử nhà Tùy có chép, thời Nam Bắc triều, Vũ Văn Ung (543 – 578) sau khi làm Chu Vũ Đế nhà Bắc Chu đã cấm truyền bá và tín ngưỡng Phật giáo. Sau khi ông ta chết liền bị phán quan bắt tống vào địa ngục, chịu đủ các loại nhục hình. Năm 598 có người tên là Triệu Văn Xương bỗng nhiên đột tử nhưng tim vẫn còn ấm, người nhà giữ thi thể không dám liệm. Triệu Văn Xương đến địa ngục, thấy Chu Vũ Đế đeo 3 tầng gông cùm trên người. Ông ta vô cùng đau đớn thảm thiết hỏi Triệu Văn Xương rằng: “Ông còn nhận ra ta không?”.

Triệu Văn Xương trả lời: “Năm xưa thần là quan thị vệ của bệ hạ, ngày đêm túc trực bên ngài”.

Vũ Đế nói: “Ông đã là cựu thần của ta, ông tạm thời đến đây, chẳng mấy chốc ông sẽ trở về. Sau khi ông trở về thì giúp ta nói với Tùy Văn Đế rằng: Các loại tội lỗi ban đầu của ta đều đã hoàn trả rất nhanh chóng rồi, chỉ còn tội ác diệt Phật này quả thực vô cùng lớn, hoàn trả mãi không hết, đến nay vẫn chưa được tha. Mong Tùy Văn Đế làm một chút công đức cho ta, ta nhờ vậy mà được phúc báo, thì mới có thể thoát khỏi địa ngục”.

***

Tục ngữ có câu: “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một  người”. Lý Hư bản tính hung dữ ngang ngược, không biết thiện ác báo ứng, chỉ vì lúc rượu say túy lúy mà đã bảo toàn chùa Phật. Việc này tuy không phải bổn ý của ông ta, nhưng làm việc thiện này không những tiêu trừ được các loại tội lỗi ông ta đã phạm ở thế gian, mà còn được “kéo dài tuổi thọ thêm 30 năm, đời sau được chuyển sinh làm người”. Đắc được phúc báo này chẳng phải do ông ta đã bảo toàn được chùa Phật mà có được đó sao?

Trái lại, nếu như Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung, Thôi Hạo hủy Pháp diệt Phật, thì đó chính là tội ác cùng cực, báo ứng vô cùng thảm khốc.

Theo Đường Thi / secretchina.com
Kiến Thiện biên dịch

 

Lời tiên tri của Đức Phật thành sự thật, làm cách nào để phân biệt chính tà?

Phật Pháp từ hàng nghìn năm nay vẫn luôn dẫn dắt con người theo con đường hướng Thiện, thực hành tu tâm dưỡng tính, từ đó giúp níu giữ đạo đức nhân loại. Nhưng sự trượt xa khỏi đại Đạo của một bộ phận Phật giáo đã và đang làm suy yếu niềm tin vào những giáo lý tốt đẹp, vốn có thể giúp đạo đức xã hội thăng hoa.

Sự phá hoại từ bên trong là sự phá hoại nguy hiểm nhất. Những người khoác áo Phật gia nhưng không chân tu đã làm diện mạo Phật Pháp bị hoen ố, khó lý giải và trở thành dị đoan trong mắt người đời. Tín ngưỡng luôn là sợi dây giúp phân rõ lằn ranh tốt xấu trong hành xử đạo đức của con người. Vì vậy, khiến con người mất niềm tin vào tín ngưỡng, cũng chính là đẩy họ trượt nhanh hơn vào sự sa đọa đạo đức vì không có gì câu thúc. Đó là tội ác, cũng là sự phá hủy con đường mà Phật Đà lưu lại cho thế nhân. Đáng buồn thay, chính một bộ phận những người tu hành nhưng không có chân tín, chân tâm đang làm điều này tốt hơn cả những người luôn hoài nghi và đả kích.

Nhìn nhận vấn đề cần có sự hiểu biết và trên những góc nhìn khác nhau, để không dễ dàng quy chụp và đánh đồng tốt xấu. Đó cũng chính là tâm từ bi mà Phật Pháp hưỡng dẫn con người. Với những câu chuyện buồn đang ảnh hưởng lớn tới xã hội của giới tu hành giả hiệu, chỉ mong thế nhân sáng mắt, sáng lòng. Giữa cái chân và cái giả, thật ra đâu có khó phân biệt. Đôi khi chỉ cần dựa vào việc cái nào thật sự thúc đẩy những giá trị tốt đẹp của Đức Nhân mà thôi.

Dự ngôn của Đức Phật

Khi Đức Phật Thích Ca tại thế đã xác định rõ với A-Nan rằng: “Nay Chánh Pháp duy trụ 500 năm”. Trong đoạn mười bảy “phân Diêm Phù đề phẩm” của quyển thứ 55 “Nguyệt Tạng Phân” của “Đại Tập Kinh”, sau khi giảng về thời kỳ “cháy rực xán lạn trên đời… bởi vì Pháp của ta vẫn còn giải thoát kiên cố”, Phật Thích Ca có giảng tiếp về 2.000 năm sau đó:

“… Sau 500 năm, Chánh Pháp của ta, Thiền Định, Tam Muội được kiên cố vững chắc. Kế 500 năm, đọc tụng, nghe nhiều được kiên cố vững chắc. Kế 500 năm, ở trong Pháp ta xây nhiều Tháp Tự được kiên cố vững chắc. Kế 500 năm, ở trong Pháp ta, tranh giành, tranh luận, ca tụng, “Pháp rõ ràng” đã ẩn kín không còn, tổn giảm kiên cố. Này những bậc thông hiểu thanh tịnh! Cứ thế về sau, ở trong Pháp ta, tuy cạo đi tóc râu, mặc lên áo cà sa, huỷ phá Giới cấm, hành xử không như Pháp, là Tì Kheo giả” – (dẫn từ zhengjian.org).

Như vậy, Phật Thích Ca đã dự báo sau khi trải qua năm cái 500 năm, cũng chính là sau 2.500 năm, cũng chính là thời điểm hiện tại, khi mà các tăng nhân trong Pháp của Ngài, tuy cạo trừ râu tóc, thân mặc cà sa, nhưng họ “phá hủy giới cấm, hành không như Pháp”, đều đã là những ‘Tì Kheo giả’”.

Trong tác phẩm kinh điển của Phật gia “Phật thuyết pháp diệt tẫn kinh” (còn gọi là “Pháp diệt tận kinh”) được cho là đã được dịch ra vào thời Lưu Tống (420 – 479) có ghi lại những dự đoán của Đức Phật Thích Ca về quá trình tiêu vong của Phật Pháp. Trong đó có nói, vào thời Pháp diệt tận, “Ma tác sa môn hoại loạn ngô đạo”, tức là ma quỷ chuyển thế xuất gia đến chùa tu hành, phá hoại Pháp của Ngài. Chùa chiền thành nơi của con buôn, chúng sinh chỉ tham tiền tài vật chất, tích lũy để giàu có, không tu cho có phúc đức chân chính. Đến thời đại này, chúng sinh trở thành nô lệ cho danh lợi, lại xuống tóc đi tu trở thành sư hoặc ni cô, không những vô đạo đức mà còn dâm dục phóng túng, hành vi hỗn loạn bẩn thỉu. Có kẻ trở thành thầy tu nhưng không thể giữ được giới luật, tuy bề ngoài vẫn tụng niệm giới luật nhưng trong lòng chán ngán, buông thả, cơ bản là không muốn nghe Phật Pháp, hoặc lược bớt nội dung, không dám nói hết. Thêm nữa họ không thể học thuộc kinh điển, cho dù thỉnh thoảng có người đọc được nhưng lại không thể hiểu chữ nghĩa và câu cú, lại tự cao tự đại, ham danh tiếng mà làm ra những trò hư ngụy, cố ra vẻ tao nhã, tự cho mình vinh quang, hy vọng người khác đến phụng dưỡng mình.


Đức Phật Thích Ca khi còn tại thế đã từng dự ngôn về sự suy thoái về Pháp mà Ngài truyền. (Ảnh minh họa: topsimages.com)

Đem so với những điều được viết ra cách đây 2.000 năm, và những lời được cho là của Đức Phật nói cách đây 2.500 năm, biết bao điều đã và đang thành sự thật:

Chính Pháp hướng Thiện, nguỵ tôn giáo kích động dục vọng

Trong Phật giáo nguyên thủy không hề có những điều như dâng sao, giải hạn, giải oan. Ai tu hành theo Phật Pháp đều biết tới Nhân quả báo ứng, nhưng biết là để không sân hận khi gặp bất bình, ủy khuất khi gặp bất trắc, không làm điều xấu để phải nhận kết quả đối ứng trong tương lai. Nghiệp chỉ có thể hóa giải bởi sự chuyển hóa của Đức, tích Đức chính là làm điều tốt, chịu khổ mà không oán trách, nào có thể chỉ bằng một chút lễ lạt, vài lời niệm chú. Kỳ lạ thay, những “chủ nợ” từ những kiếp trước đến đòi nợ người ta lại sẵn sàng đánh đổi bằng tiền bạc ở cõi này. Ở nơi nào đó, những sinh mệnh bị hại, chịu đau khổ vì tội của người bị đòi nợ, lại có thể dùng tiền, vốn chỉ là tờ giấy ở cõi này để hóa giải ân oán?

Luật nhân quả không chỉ giải thích nguồn gốc những đau khổ của con người, mà quan trọng là sau đó khiến con người ta có câu thúc về đạo đức mà không làm việc gây tổn hại tới lợi ích của người khác.

Ngược lại, việc cúng sao, giải hạn, cúng giải oan lại đưa ra cho con người một cách trốn tội cho những việc xấu mà họ đã vô tình hoặc cố ý làm ra. Nghĩa là dù gây ra bao nhiêu tội ác đi nữa, chỉ cần cúng lễ, trả tiền, thuê thầy khấn vái là thoát tội, không còn lo sợ báo ứng nữa, cũng là vì đã “đền đáp” xứng đáng cho “vong” rồi.

Chỉ riêng điều này đã đủ để chúng ta phân biệt đâu là chân Pháp, chính Đạo. Bởi tất cả những chính tín dựa trên chính Pháp đều hướng con người tới sự Thiện lương, tới sự hoàn thiện của đạo Nhân Nghĩa.

Bất kỳ nguyên lý nguỵ tôn giáo nào kích động, tháo xích cho dục vọng, khiến người ta tham lam, cúng bái cầu tiền tài danh vọng và sẵn sàng làm điều gì cốt là tốt cho mình mà không cần nghĩ tới người khác, thì đó liệu có phải là chính Đạo không?


Việc cúng sao, giải hạn, cúng giải oan đã đi lệch lạc so với các nguyên lý cốt lõi của nhà Phật. (Ảnh minh họa: lichngaytot)

Người tu hành lại chẳng tu khẩu

Kinh ngạc bao nhiêu từ sự chính xác trong dự ngôn của Phật Thích Ca, thì chúng ta càng lo lắng bấy nhiêu. Tất cả đã trở thành sự thật. Chùa chiền biến thành nơi của kẻ buôn bán đầu cơ, chúng sinh tham tiền tài vật chất không tu đức chân chính. Tăng ni trong chùa đã có những kẻ vô đạo mà còn dâm dục phóng túng. Lại cũng có người trở thành thầy tu mà không chân tu, nhưng tự cao tự đại, hám danh tiếng mà làm ra những trò hư nguỵ. Giữa các Pháp môn khác nhau cũng có đấu đá, nói xấu, đặt điều, thậm chí vu khống, giữa những môn phái cùng thuộc Phật giáo cũng chẳng tha. Đó là điều mà người tu luyện làm được sao?

Người tu hành chẳng phải phải tu khẩu. Không những chỉ tu khẩu mà còn phải tu từ thân, khẩu tới ý, nghĩa là ngay cả nghĩ điều xấu cho người khác cũng là không được. Vậy mà những vị trụ trì danh tiếng, có chức sắc trong cả giới tu luyện và giới công chức lại công nhiên đăng đàn, quay phim phát tán rộng rãi những bài diễn thuyết xuyên tạc, hãm hãi những chính tín khác. Hoặc giải thích một cách chắc chắn về tội lỗi của người khác, bất chấp có thể gây ra tổn thương tới tình cảm của những người thân nạn nhân. Người tu Thiện, sao có thể ăn nói bất cẩn, coi nhẹ cảm xúc của người khác đến vậy. Hơn nữa, người tu luyện chân chính chẳng phải luôn khiêm nhường vì biết điều mình biết chỉ là rất nhỏ bé so với sự thật hay sao.

Đức Phật năm xưa, trong khi truyền Pháp vẫn tiếp tục khai ngộ nên luôn nhắc đệ tử của mình rằng “Pháp vô định Pháp”, trước khi niết bàn cũng dặn lại rằng “ta đời này chưa có giảng Pháp nào hết”. Có lẽ bởi Ngài liên tục khai ngộ, ngộ ra những Pháp lý mới, gần sự thật của vũ trụ hơn so với Pháp cũ mà Ngài đã giảng trước đó. Vì không muốn các đệ tử sau này phụ thuộc hoàn toàn vào Pháp mình giảng, mà phải thực tu, liên tục đề cao và liên tục khai ngộ, nên Đức Phật đã nói mình chưa có giảng Pháp nào hết. Pháp trong tiếng Hán là luật, là luật của vũ trụ, là chân lý, là sự thật, mà chân lý thì rộng lớn vô biên, ai dám khẳng định mình đã biết hết? Người chân tu vì thế sẽ luôn khiêm nhường và coi trọng tu khẩu.

Phật Đà là phiên âm từ chữ “buddha” trong tiếng Phạn, nghĩa là tỉnh thức, giác ngộ, hoặc người tỉnh thức, người giác ngộ. Nghĩa là Phật chính là người thông qua tu hành mà thấu triệt được những kiến thức uyên bác, rộng lớn và chân thật về vạn sự vạn vật, nào có phải là một ông làm phép thuật, hù doạ người khác để họ sợ hãi và tin theo một cách mù quáng. Người càng hiểu biết thì càng cẩn trọng lời nói. Thuyết pháp dựa trên sự bất Chân (bẻ cong giáo lý của Phật Pháp nguyên thuỷ), bất Thiện (nói xấu người khác, không chân trọng cảm xúc của người khác), và bất Nhẫn (đỗ lỗi, quy chụp lại người khác khi bị công kích) thì đó có phải là người chân tu không?

Chân, giả vốn không dễ phân biệt, nhưng lại có cách rất đơn giản để phân biệt. Chỉ có dựa vào việc nó có mang lại lợi ích cho đạo đức con người và xã hội hay không để phán đoán là chính xác hơn cả.

Thuần Dương

 

 

Chuyện kiếp trước của Đức Phật: Ai cũng truy tìm hạnh phúc, nhưng phần đông bị mê hoặc bởi thứ hạnh phúc giả tạm

“Người đời ai cũng mong tìm hạnh phúc, nhưng hạnh phúc cũng có thứ chân thật, thứ giả dối, thứ trường cửu, thứ tạm thời. Phần đông người ta đều bị mê hoặc, bị lôi cuốn bởi thứ hạnh phúc giả tạm, giống như đoá hồng nhỏ này, vừa nở ra trông rất đẹp, nhưng cái đẹp ấy không tồn tại vĩnh viễn”.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Đức Phật Thích Ca có 10 đại đệ tử, trong đó Tôn giả Tu Bồ Đề được mệnh danh là “Giải Không đệ nhất”, là người có kiến giải sâu sắc nhất về tính Không. Kinh Phật chép lại câu chuyện Đức Phật kể cho Tôn giả Tu Bồ Đề nghe về một tiền kiếp của Ngài như sau:

“Này Tu Bồ Đề! Trong tiền kiếp, có lần ta là một người tu hành ẩn thân nơi rừng núi. Một ngày, ta đang tĩnh tọa dưới gốc cây đại thụ, nhắm mắt để quán chiếu về vũ trụ huyền bí và khởi nguồn của nhân sinh, bỗng nhiên có tiếng nói cười nổi lên ở phía trước. Ta mở mắt thì thấy một đám giai nhân sắc nước hương trời đang đứng trước mặt. Nhìn cách phục sức và trang điểm sang trọng, ta đồ rằng nếu họ không phải là tiên nữ từ thượng giới giáng hạ xuống, thì cũng là phi tần chốn hoàng cung. Họ nắm tay nhau, cùng tiến tới trước mặt ta, vui vẻ hỏi:

– Ông thầy tu ơi! Đây là chốn núi sâu rừng rậm, tại sao ông ngồi một mình vậy! Ông không sợ cọp, beo, chó sói ăn thịt sao?

Ta vẫn ngồi ngay thẳng trả lời:

– Thưa các vị nữ sĩ tôn quý! Đúng vậy. Tôi ở đây tu hành chỉ có một mình, vì người tu hành không nhất thiết phải có nhiều bạn bè. Hơn nữa, người có tâm từ bi thì sẽ không bị muông thú quấy nhiễu. Còn ở chốn thành đô hoa lệ thì những thứ như tiền bạc, sắc đẹp và quyền uy… có khác gì cọp, beo, chó sói nơi rừng núi đâu!

Nghe ta nói xong mấy lời này thì đám giai nhân kia đã thay đổi thái độ, họ không kiêu kỳ nữa mà tỏ ra cung kính đối với ta. Họ ân cần xin ta chỉ dạy. Ta bèn chỉ một bụi hoa hồng nhỏ ở bên cạnh, nói tiếp:

– Thưa quý vị! Người đời ai cũng mong tìm hạnh phúc, nhưng hạnh phúc cũng có thứ chân thật, thứ giả dối, thứ trường cửu, thứ tạm thời. Phần đông người ta đều bị mê hoặc, bị lôi cuốn bởi thứ hạnh phúc giả tạm, giống như bông hồng nhỏ này, vừa nở ra trông rất đẹp, nhưng cái đẹp ấy không tồn tại vĩnh viễn. Tuổi trẻ, sắc đẹp, sức khỏe… đều không trường tồn để chúng ta dựa vào mãi được.

Con người đáng quý ở chỗ biết sống đúng đạo lý, làm điều hữu ích cho đời, tu dưỡng những giá trị vĩnh hằng…

Ta vừa nói đến đây thì một người mặc trang phục vương giả, tay cầm bảo kiếm, từ xa chạy tới trước mặt ta quát lớn:

– Ngươi là ai, sao dám cả gan đùa giỡn với cung phi của ta?

Thấy người ấy chạy đến với thái độ cực kì hung hãn, ta từ tốn nói:

– Thưa đại vương! Xin ngài cho biết quý danh và xin đừng nhục mạ người như vậy.

Nhưng người này càng to tiếng hơn:

– Ngươi nằm mộng giữa ban ngày chăng? Ta là vua Ca Lị oai danh khắp bốn phương, ai mà không biết! Không ngờ ngươi dám dụ dỗ cung phi của ta!

– Thưa đại vương! Xin ngài đừng nói như vậy. Tôi là kẻ tu hành, giữ hạnh nhẫn nhục, cho nên không dám có lời chống đối ngài, nhưng khẩu nghiệp ngài vừa tạo ra chắc chắn sẽ đem lại cho ngài một tương lai không tốt đẹp.

– Ngươi tu hạnh nhẫn nhục ư? Vậy ta thử cắt thân thể ngươi ra từng mảnh, xem ngươi có còn nhẫn nhục được hay không!

Này Tu Bồ Đề! Vua Ca Lị nói như thế xong liền dùng bảo kiếm lần lượt móc mắt, cắt tai, cắt mũi, chặt hai tay rồi hai chân ta. Vì hạnh nguyện độ sinh, vì ban bố lòng từ bi cho chúng sinh mà ta không hề khởi lên một niệm sân hận. Với chính niệm vô ngã độ sinh, ta dần dần tích tụ phước huệ để viên mãn quả vị giác ngộ. Này Tu Bồ Đề! Sự hung bạo không thể thắng được nhân văn, chỉ có người tu hạnh nhẫn nhục mới đắc được sự thăng hoa tột đỉnh mà thôi”.

Đức Phật Thích Ca và Tôn giả Tu Bồ Đề. (Ảnh minh họa: emaze.com)

Lời bình

Đức Phật nói: “Ở chốn thành đô hoa lệ thì những thứ như tiền bạc, sắc đẹp và quyền uy… có khác gì cọp, beo, chó sói nơi rừng núi đâu!”.

Vì sao vậy?

So với thời gian trôi đi trong Vạn kiếp Luân hồi, những thứ vật chất đắc được ở đời người chỉ lướt qua trong chớp mắt – còn ngắn ngủi hơn cả kiếp sống của họ. Chúng chỉ là những giá trị giả tạm, khi sinh không theo đến, lúc chết chẳng mang đi. Cuộc đời ngắn ngủi như vậy mà con người lại lao tâm khổ tứ vì danh lợi, bị cuốn theo sự cám dỗ của sắc đẹp và ái tình, thì còn đâu thời gian và tâm trí để tu thân, tích đức, hội tụ những giá trị sinh thì theo đến, chết thời mang đi? Nếu theo đuổi tiền bạc, sắc đẹp và quyền uy… tới một ngày, sinh mệnh đã cạn kiệt như ngọn đèn leo lét, người ta mới nhận ra mình đến kiếp người với hai bàn tay trắng, mà ra đi cũng hoàn trắng tay… Vậy chẳng phải những giá trị giả tạm kia đã chiếm mất cơ hội sống thực sự của con người? Sinh cảnh nơi phồn hoa đô hội như vậy, chẳng phải còn nguy hiểm hơn đối mặt cọp, beo, chó sói… nơi rừng núi? Trong Vạn kiếp Luân hồi, đắc được thân người nào có dễ chi?

Lại nữa, để giành được bạc tiền và quyền uy, thoả mãn tâm sắc dục… con người sẽ phải làm những điều xấu như mưu mô, tranh đấu, hại người… Như vậy, không những chẳng làm được điều gì để tu dưỡng thân tâm, họ còn tạo thêm nghiệp chướng và sẽ rời khỏi kiếp người với căn cơ thấp hơn khi được sinh ra. Cứ như vậy thì sẽ phải trầm luân mãi mãi trong bể khổ Luân hồi sinh tử…

Ấy thế mà, con người lại coi “tiền bạc, sắc đẹp và quyền uy” ấy là hạnh phúc, là mục tiêu để theo đuổi. Chẳng dại khờ lắm ư?

Đức Phật khai thị: “Đời người đáng quý ở chỗ biết sống đúng đạo lý”. Trong lịch sử từ xưa đến nay, biết bao nhiêu bậc Giác Giả đã giáng hạ thế gian, dạy bảo cho con người cư xử theo đạo lý. Trời có Đạo của Trời, người có Đạo làm người. Hành xử phù hợp với đạo lý của cảnh giới nào, thì sẽ trở thành sinh mệnh của cảnh giới ấy. Nếu một người có thể buông bỏ dục vọng, trở thành người tốt và tốt hơn nữa, đạo đức không ngừng thăng hoa, thì nhất định sẽ đi đến cảnh giới tốt lành – đây mới là hạnh phúc bền lâu chân chính mà con người cần theo đuổi.

“Trải muôn vạn kiếp nơi thế gian đến lại đi

Đời người vì điều chi mà lao tứ?

Quyền, danh, lợi, sắc nơi thế gian khó bền lâu

Hồng trần thịnh hay suy định bởi Trời.

Quê hương thật ta vốn trên trời cao

Bao tranh đua thắng thua như phù vân

Nhiều thị phi là ân oán từ bao kiếp

Hãy mau tỉnh mộng đắc Pháp, ta hồi hương!”

Thanh Ngọc

(Tham khảo: “Mười đệ tử lớn của Phật” – Tinh Vân pháp sư)

 

Vàng không thuần khiết, người không thập toàn, tâm tốt mệnh sẽ tốt

Hồng trần cuồn cuộn, mưa tiễn hoàng hôn, sao có thể tránh khỏi những điều phiền phức? Xem nhẹ một chút, nghĩ giản đơn một chút, sẽ thấy lòng yên vui.


Sinh mệnh, mỗi người chỉ có một, thọ mệnh có thể dài, có thể ngắn.

Cuộc sống, mỗi người đều phải bước đi, có thể yêu, có thể ghét.

Nhân sinh, mỗi người đều đang đi trên cuộc hành trình của mình, người đang tiến, kẻ đang lùi.

Nhân vô thập toàn, sự vô hoàn mỹ, có người thì khẳng khái, độ lượng bao dung, kẻ lại quanh co, so đo tính toán.

Có những sự việc, bạn càng khẩn trương thì càng mệt, càng cưỡng cầu lại càng mất.

Thế giới rộng lớn, lòng người đa đoan, vậy nên bậc quân tử gặp phải tiểu nhân đôi khi là điều khó tránh.

Hồng trần cuồn cuộn, mưa tiễn hoàng hôn, sao có thể tránh khỏi những điều phiền phức? Xem nhẹ một chút, nghĩ giản đơn một chút, sẽ thấy lòng yên vui.

Bị ấm ức, cứ lặng lẽ bỏ qua, bị hiểu nhầm, hãy cười cho xong chuyện. Thế gian chẳng ít chuyện buồn nhưng niềm vui cũng không thiếu. Không có ánh mặt trời thì nghe gió thổi ngắm mưa rơi, không có hương hoa thì thưởng thức mùi thơm cây cỏ, không có tiếng đàn thì nghe tiếng côn trùng da diết. Tâm tĩnh vạn sự bình, tâm vui vạn sự thuận.

Vàng không thuần khiết, người không thập toàn, tâm tốt mệnh sẽ tốt
Thế gian chẳng ít chuyện buồn nhưng niềm vui cũng không thiếu… (Ảnh: pinterest.com)

Bạn bè kết giao, quý trọng ở chân thành. Đường đời gian khó, tháng ngày luôn biến đổi, yêu và hận cũng dần dần theo đó mà đổi thay. Vậy nên gặp khó khăn, oán giận hãy đổi góc nhìn, ắt sẽ có cái nhìn thoáng hơn. Thất bại rồi làm lại có sao đâu? Thất bại càng nhiều, khó khăn càng lắm thì nền tảng cho sự thành công sau này càng lớn. Đối diện với chính mình mới là điều cần thiết, chiến thắng được bản thân thì còn điều gì không thể vượt qua.

Làm người thì bao dung càng lắm, yêu thương càng nhiều, lòng càng dễ tha thứ thì hạnh phúc càng đong đầy. Biển trở nên vĩ đại là nhờ dung nạp trăm sông bất kể trong đục, người có thể thành vĩ nhân là nhờ vui cái vui của thiên hạ, buồn cái buồn của thế nhân. Vậy nên làm người chớ bận lòng oán hận thiệt hơn, hạnh phúc chỉ có ở người biết nghĩ cho kẻ khác trước khi nghĩ cho bản thân. Thiện lương chính là con đường ngắn nhất, đưa mỗi chúng ta đến bến bờ hạnh phúc.

Nhân sinh cũng một kiếp người, biệt ly là để tương phùng mà thôi

Ly biệt là điều bất cứ ai cũng phải đối diện trong đời. Đương nhiên, là con người, chứ nào phải sỏi đá mà không thấy buồn đau? Có chăng chỉ là mỗi chúng ta đều có lựa chọn cho riêng mình để mà đối diện, để mà chấp nhận nó một cách khác nhau.


“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”, đã có duyên gặp gỡ với người tâm đầu ý hợp thì cũng có ngày phải chia xa. Bởi chúng ta đều hiểu rõ một điều, thiên trường địa cửu, ly biệt cũng chỉ là điều sớm muộn mà thôi.

Trong cuộc đời có những cuộc chia ly có thể dự liệu, và cũng có những cuộc chia ly có thể tương phùng. Tuy nhiên đồng thời cũng có những cuộc chia ly một đi không trở lại, và chúng ta chẳng thể tiên đoán điều gì.

Đối với những cuộc chia ly không thể tiên đoán mà cũng chẳng thể cưỡng lại, chúng ta chỉ có thể trân quý những gì mình đang có và đã có, chớ nên nghĩ nhiều mà mãi hoài lưu luyến, bởi nào ai thay đổi được duyên số đã an bài?

Kỳ thực, nhân sinh sống một kiếp người, có hội ngộ tương phùng thì cũng phải có ngày biệt ly. Chúng ta thông qua ly biệt để hiểu mình, hiểu người và cũng là để hiểu thế gian mộng ảo vô thường.

Nhân sinh cũng một kiếp người, biệt ly ấy: để tương phùng mà thôi
Có “hợp” thì có “tan”, âu cũng là lẽ đương nhiên. Có thể thấu hiểu nhân sinh mới không uổng kiếp người. (Ảnh: golos.ua)

Lý Bạch cũng đã từng viết:

“Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.”

Tạm dịch:

Buồm trôi lẻ bóng miền xanh thẳm
Chỉ thấy Trường Giang sóng hút trời

Hai câu thơ tả cảnh tâm trạng Lý bạch tiễn bạn đi xa, đưa mắt nhìn theo bóng bạn dần dần xa khuất, điều còn lại trong lòng chỉ là sự trống trải, bâng khuâng, tịch mịch.

Hay như Vương Dương Linh từng viết:

“Lạc Dương thân hữu như tương vấn,
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.”

Tạm dịch:

Lạc Dương bằng hữu mà thăm hỏi
Một mảnh tâm trong dưới ngọc hồ.

Có đôi khi chúng ta cho rằng, chia ly là việc chỉ dành cho những người không yêu thương nhau. Tuy nhiên đến một khi nào đó ta chợt nhận ra rằng, chúng ta phải cách biệt người mình thương yêu. Khi ấy, gạt giọt lệ sầu, đầu không dám ngoảnh, chân cất bước đôi hàng trĩu nặng…

Khi chia ly ai từng nói hay chăng hai từ “tạm biệt”, lòng mang theo hoài niệm nhớ thương và chúc cho người còn lại đủ đầy hạnh phúc để rồi mỗi người mỗi ngả chia ly.

Nếu như sau cơn mưa vẫn cứ là mưa, và sau đau thương vẫn cứ là đau khổ, thì hãy cho ta được ung dung bình lặng đối diện với cuộc chia ly này….

Nhà văn Vương Bột từng viết:

“Hải nội tồn tri kỷ, thiên nhai nhược tỉ lân.”

Tạm dịch:

Bể dâu còn tri kỉ, góc trời vẫn kề bên.

Nhân sinh trong một kiếp này, nếu như có được người tri kỷ, vậy thì nơi xa đường vẫn cứ gần, chân trời góc bể vẫn về với nhau. Chỉ cần trong lòng hai người có thể vẫn nhớ về nhau thì dẫu xa mấy cũng chẳng thấy cô đơn.

Nhân sinh cũng một kiếp người, biệt ly ấy: để tương phùng mà thôi
Có được một người tri kỷ thì dẫu xa cũng gần, dẫu ly biệt mà lại không ly biệt. (Ảnh: bitno.net)

Kỳ thực, ly biệt đôi khi cũng chẳng có gì quá lớn lao, nhẹ nhàng chuyển mình, nhẹ nhàng vẫy tay chào nhau, không cần lệ sầu luyến tiếc, đau thương buồn tủi. Bởi thế nhân vốn dĩ sinh ra ly biệt là để tương phùng, có phải vậy không? Khi bạn đi, đó là lúc bạn cần phải bước, tôi ở lại tiễn bạn lên đường; nếu bạn về, tôi nồng hậu hoan nghênh, ly và hợp có gì lưu luyến?

Kỳ thực xa nhau chưa hẳn đã buồn, sợ rằng ở lại mà lòng khác nhau.

Thực tế khi con người ta ly biệt chính là bởi duyên phận vơi đầy, đó là lúc không thể không đi, vậy nên chúng ta nên buông bỏ những gì cần buông bỏ. Còn ngược lại, nếu như làm người mà không nỡ buông tay đúng lúc thì cảnh chia ly sẽ như khoan xương cắt thịt.

Nếu như không có giọt nước mắt chia ly thì sao có nụ cười ngày tương hợp, không có đau thương thì sao hiểu niềm hạnh phúc? Vậy nên yêu và ghét, hận và thương, ly và hợp đó là lẽ thường tình của cuộc sống, chúng ta dù muốn dù không vẫn cứ phải đối diện. Người lạc quan, hạnh phúc, yêu đời khác với nửa còn lại chính là ở chỗ họ biết chọn cho mình một phương thức lạc quan để đối diện.

Nếu như đã biết chia ly là điều không thể tránh khỏi, vậy cớ gì phải luyến tiếc khôn thôi? Nếu đã biết sau mưa vẫn cứ là mưa, sau sầu ly biệt vẫn là biệt ly, vậy thì sao không thể đổi sầu thành lạc, để phút chia ly ta tiễn bạn nụ cười?

Cầu cho mỗi đoạn nhân duyên se nhầm, đều sẽ viên mãn ở lần hội ngộ sau

Một buổi sớm, tiểu hòa thượng Nhất Thiền ra sân chùa dạo chơi. Cậu đến bên bàn trà, ngồi thu mình trên chiếc ghế đá, nhìn cây nhân duyên gắn đầy những mảnh giấy đỏ mà thở dài thườn thượt.


Hình như có tiếng sư phụ đang quét sân ở gần đó. Nhất Thiền nhỏm người dậy gọi với ra sau lưng: “Sư phụ, có phải Nguyệt lão rất keo kiệt không ạ?”.

“Ồ, tiểu tử ngốc này, sao con nói vậy?”. Sư phụ vẫn điềm tĩnh lia chổi qua từng bậc đá. Ánh nắng ban mai chiếu rõ từng hạt bụi li ti cuốn nhau sau từng nhát chổi.

Nhất Thiền ngoảnh mặt lên nhìn cây nhân duyên, lại thở dài: “Biết bao nhiêu thí chủ đều khốn khổ vì tình. Ài, những tờ cầu nguyện trên cây nhân duyên đều sắp đầy cả rồi”.

Sư phụ lắc đầu mỉm cười, tay vẫn không ngừng lia chổi quét.

Nhất Thiền lại thở dài một tiếng nữa, mắt vẫn không rời những tờ giấy đỏ treo trên cây nhân duyên lòa xòa trước sân:

“Con thấy nếu Nguyệt lão hào phóng hơn một chút, se thêm vài sợi tơ hồng thì muộn phiền của những thí chủ ấy đều sẽ không còn nữa. Như vậy chẳng phải tốt biết bao sao?”.

Sư phụ bấy giờ mới ngừng tay chổi, tiến lại gần Nhất Thiền, nói:

“Keo kiệt thì chưa chắc, Nguyệt lão chỉ là hơi hồ đồ chút thôi”.

Nhất Thiền ngoái đầu nhìn sư phụ đầy băn khoăn:

“Đệ tử không hiểu?”.

Sư phụ nhìn lên cây nhân duyên, đột nhiên trầm giọng xuống:

“Con xem, các thí chủ lụy tình ở đây đau khổ không phải vì không ai bầu bạn, thiếu thốn duyên phận, mà là không thể đi đến cuối cùng với người mình đã từng gặp. Ngay từ đầu đã là yêu – hận đan xen, sau cùng thì mãi mãi không gặp lại. Nhưng nghĩ kỹ lại, chẳng có ai thật sự đã đúng hay sai. Cuối cùng, cũng chỉ có thể trách Nguyệt lão hồ đồ, đã se nhầm mấy sợi tơ hồng phiền muộn mà thôi! Ài!”.

Cầu cho mỗi đoạn nhân duyên se nhầm, đều sẽ viên mãn ở lần hội ngộ sau
Con xem, các thí chủ lụy tình ở đây đau khổ vì không thể đi đến cuối cùng với người mình đã từng gặp… Nhưng nghĩ kỹ lại, chẳng có ai thật sự đã đúng hay sai. (Ảnh: youtube.com)

Nhất Thiền nghe xong, lẩm nhẩm như tự độc thoại với mình:

“Cảm giác duyên phận se nhầm chắc là khó chịu lắm nhỉ!”.

Sư phụ thoáng giật mình, khẽ véo yêu vào tai Nhất Thiền một cái:

“Tiểu tử ngốc! Trẻ con, biết cái gì!”.

Nhưng ngay sau đó, sư phụ dường như cũng nhận ra được chút ý vị gì ẩn tàng bên trong. Ông dựng cây chổi ở góc sân, cùng đứng lặng im với Nhất Thiền dưới gốc cây duyên phận đang đu đưa những tán lá của mình theo gió sớm.

Nhất Thiền mới lại nói:

“Nguyệt lão cũng già rồi, cũng không thể trách ông ấy được”.

Sư phụ mỉm cười, xoa xoa cái đầu trọc lốc của Nhất Thiền, ôn tồn giảng giải:

“Nhất Thiền à, Nguyệt lão vẫn là Nguyệt lão! Những nhân duyên bị se nhầm rồi cũng sẽ được hóa giải ở đoạn duyên tiếp theo thôi. Những thí chủ đến đây cầu nguyện đều là không ai phải đau khổ cả một đời đâu. Trong một lúc nào đó không ngờ tới ở tương lai, họ sẽ được như ý thôi”.

Nhất Thiền tròn xoe mắt nhìn sư phụ, gần như reo lên:

“Thật ạ?”.

Sư phụ mỉm cười:

“Đúng vậy tiểu tử ngốc à!”.

Sư phụ quay gót rời đi, lại cầm chổi lên quét dọn nốt sân chùa. Nhất Thiền hướng mắt lên cây nhân duyên một lần nữa. Những mảnh giấy đỏ phất phơ bay trong gió. Nắng sớm mai lấp ló chiếu xuyên qua từng kẽ lá. Cậu nheo mắt nhìn những tia nắng nhảy nhót trên vòm lá, trong lòng suy nghĩ ra chiều mông lung lắm…

Cầu cho mỗi đoạn nhân duyên se nhầm, đều sẽ viên mãn ở lần hội ngộ sau
Nhất Thiền hướng mắt lên cây nhân duyên, trong lòng suy nghĩ ra chiều mông lung lắm… (Ảnh: youtube.com)

***

Trên đời này, điều gì mới thực sự là quý giá nhất? Người ta có giở hết bao nhiêu sách vở để tra cứu cũng chưa chắc tìm được câu trả lời. Tiền chăng? Danh tiếng chăng? Hay là tình yêu tuyệt vời? Tất cả đều không phải. Chuyện này ngẫm kĩ ra thật khó, phải vậy không?

Nhưng rốt cuộc thì:

“Trong cõi hồng trần cuồn cuộn này, quý giá nhất không phải là thứ không có được hay đã mất đi, quý nhất chính là hạnh phúc hiện đang nắm giữ vậy!”

Cả đời bạn có thể gặp nghìn vạn người. Nhưng đi đến cuối con đường cùng nhau thì chỉ có một.

Để yêu một người đôi khi không cần phải quá cố gắng, mọi chuyện đều là hai chữ “duyên phận” định đoạt thôi.

Dẫu có lạc mất nhau trong dòng đời mịt mù kia, có gì khiến bạn phải buồn rầu? Mất đi một người không biết trân quý mình đâu phải là thảm họa phải không?

Ở đâu đó nhất định có người đang đợi bạn để trao cho bạn những cái ôm trìu mến hay một bờ vai vững chãi. Bạn hãy còn cơ hội một lần nữa, gặp được người biết trân quý mình.

Mong cho mỗi đoạn nhân duyên se nhầm đều sẽ được viên mãn ở lần hội ngộ sau…

Nếu Đức Phật hạ thế giảng Chính Pháp lúc này, làm sao chúng ta có thể nhận ra?

Chỉ là giả sử thôi, nếu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất thể giảng Pháp lúc này, liệu thế nhân có thể nhận ra Ngài là chân Phật xuống đây để cứu họ không?


Bạn có thể lắng nghe Pháp lý mà Ngài giảng để từ đó mà nhận ra Chính – Tà không? Liệu ma quỷ có thể không phỉ báng và cản trở con đường cứu độ chúng sinh của Ngài không? Bởi vậy, minh tỏ Chính  – Tà là để mỗi chúng ta có thể lựa chọn tương lai cho sinh mệnh của mình, cho dân tộc quốc gia mình. Bài viết thiển đàm về cách phân định Chính – Tà khi chúng luôn đồng tồn, khi ‘Tà’ luôn quy mô và giảo hoạt trong thế gian hỗn độn này…

Giả sử, chỉ là giả sử thôi, Đức Thế Tôn không xuất thế vào 2.500 năm trước, mà vào chính lúc này, Pháp mà Ngài truyền thế gian thời này, và gọi là Đạo ABC.

Trong xã hội đương đại, tư tưởng con người phức tạp, nơi quá nhiều cám dỗ, dục vọng, nơi tư duy con người chịu ảnh hưởng lớn bởi truyền thông… rất có thể, truyền thông “dòng chính” sẽ mô tả Pháp mà Ngài truyền, con đường mà Ngài dẫn đệ tử buông bỏ dục vọng, thất tình lục dục, bằng những cái tít như thế này:

      • Người theo tà đạo ABC không thờ cúng tổ tiên;
      • Kinh hoàng tà đạo ABC khuyến khích đệ tử từ bỏ bố mẹ, vợ con, gia đình, công việc…
      • Tà đạo ABC lôi kéo một nhóm lớn người từ bỏ lao động, từ chối gia nhập xã hội…
      • Sự thống khổ của người mẹ có con theo tà đạo ABC: con không nhận mẹ …

Vì chúng ta đã biết, đã minh tỏ rằng Pháp mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng từ 2.500 năm trước là một trong các Chính pháp chính truyền cho loài người, thực sự giúp con người thăng hoa cảnh giới, tư tưởng, đạo đức; tin và hành theo Pháp ấy con người có thể giải thoát khỏi luân hồi, sinh tử.

Bởi vậy, chúng ta hiểu một cách minh bạch rằng, theo Pháp tu của Ngài, là phải đi theo con đường Giới – Định – Huệ; là đi con đường như thế, theo cách như thế… Chúng ta trân quý những người chân chính chiểu theo lời Đức Thế Tôn để tu luyện, những người dám bước ra khỏi danh – lợi – tình để “phản bổn quy chân”, là quay trở về với bản nguyên sinh mệnh thần thánh của con người, là tính bản THIỆN. Và dù người xung quanh, gồm cả gia đình của họ, không lý giải hay phản đối họ, coi họ là “mê tín”, “mê muội”, “cuồng tín”… nhưng họ cứ một mực tin vào những lời Đức Phật giảng mà tu tâm, dưỡng tính, thiền định. Họ không có làm ảnh hưởng tới trật tự xã hội, không trở thành một phần tử gây rối xã hội, ngược lại Đạo mà họ thấu ấy còn giúp giáo hóa dân chúng, duy trì đạo đức xã hội. Xã hội có nền tảng đạo đức tốt sẽ hưng thịnh.

Chỉ là giả sử thôi, nếu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất thể giảng Pháp lúc này, liệu thế nhân có thể nhận ra Ngài là chân Phật xuống đây để cứu họ không?
Trải qua 2500 năm rồi chúng ta mới nhận thức được rằng Pháp mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni truyền giảng là Chính pháp. (Ảnh: pinterest.com)

Tuy nhiên, bao nhiêu người trong trào lưu phỉ báng Ngài, phỉ báng đồ đệ của Ngài có thể minh tỏ Chính – Tà, có thể trong mê mà lội ngược dòng tìm ra Chính pháp? Lịch sử đã để lại nhiều bài học đau thương về phỉ báng Chính pháp do không minh tỏ được Chính – Tà; con người, dân tộc, quốc gia đã phải trả giá không ít bởi sai lầm đàn áp Chính pháp; đây là tội nghiệp lớn nhất của loài người.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Đức Chúa Jesus thực sự đã bị con người, chính phủ đương thời phỉ báng

Đức Thế Tôn, Chúa Jesus – các bậc Chính Giác chân chính – vì con người thế nhân đã hạ phàm độ nhân. Các vị ấy đều có thật, đều được lịch sử ghi nhận, các vị ấy dùng thân thể người thường, mang nhục thân giống tất cả chúng ta để độ chúng ta.

Thời Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, trong quá trình du phương hoằng hóa, thi thoảng Ngài cũng gặp phải sự chống phá của tà kiến ngoại đạo chính là Bà La Môn giáo. Khi Thế Tôn diệt độ, trải qua hơn 2.500 năm lưu truyền, Giáo Pháp của Ngài cũng gặp không ít sự chỉ trích, phê phán của những người có quan điểm bất đồng …

Khi còn tại thế, Chúa Jesus bị bắt và chịu xét xử trước Tòa Công Luận vì tội tuyên giảng “tà đạo” cho người dân, rồi bị đưa đi đóng đinh lên cây thập tự. Đến nay, nếu Công giáo không phù hợp với mục đích chính trị thì tôn giáo này cũng sẽ không tránh khỏi sự gán ghép là tà giáo của các Chính phủ.

Vì tâm nguyện từ bi vĩ đại này, các bậc Chính Giác ấy đã chịu muôn vàn phỉ báng, khổ đau. Song song với Pháp mà các bậc Chính Giác truyền xuống, hàng trăm hàng ngàn Tà giáo cũng xuất thế. Tại sao? Bởi đó là lý tương sinh tương khắc của Vũ trụ này: có Chính thì có Tà, có Tốt thì có Xấu, có Phật thì có Quỷ… Trong sự hỗn độn đó, trong cõi mê đó, con người phải lựa chọn, dùng lý trí, mở rộng trái tim để nhận biết Chính – Tà.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Đức Chúa Jesus thực sự đã bị con người, chính phủ đương thời phỉ báng
Các bậc giác giả đến độ nhân trong lịch sử đa số đều bị con người bức hại. (Ảnh: pinterest.com)

Thế gian hỗn độn, vàng – thau lẫn lộn, làm thế nào để phân định Chính – Tà?

Chính và Tà ấy, không phải do một chính phủ hoặc một ai đó gán cho một pháp tu là chính hoặc tà thì pháp tu ấy là chính/tà, bởi Chính phủ ấy, cá nhân ấy họ còn nhận định dựa trên các chuẩn mực của chính trị, thế thời, của tình cảm mà họ tin tưởng. Chính hay Tà có thể nhận biết từ chính Pháp lý của Pháp môn đó.

Pháp môn tu luyện nào đặt ra yêu cầu cao về tiêu chuẩn đạo đức – thì pháp môn đó nhất định là Chính giáo. Người tu trong Pháp môn ấy tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức cao thượng và nghiêm khắc của pháp môn ấy thì người đó đang đi đường Chính đạo trong Pháp môn đó. Ngược lại, người tu trong Chính giáo nhưng lại không tuân thủ yêu cầu của Pháp môn đó, bề ngoài chạy theo hình thức của Pháp môn đó, nhưng bên trong không chân chính nâng cao Đạo Đức theo yêu cầu của Pháp môn, mà nuôi dưỡng dục vọng thì bản thân họ là theo Tà đạo; nếu tại chùa, các trụ trì và phương trượng dẫn dắt người khác nữa thì trăm ngàn lần nguy hiểm.

Yêu cầu đạo đức trong Phật giáo và Thiên Chúa giáo và kể cả Do Thái giáo có sự tương đồng rất lớn: tất cả Phật tử, con chiên không nói dối (CHÂN), chế ngự dục vọng, từ bi (THIỆN) và nhẫn nại chịu khổ nạn, coi mọi khó khăn, bất công trong cuộc đời như món nợ cần hoàn trả, coi như cơ hội để đề cao tâm chính và phát tâm từ bi (NHẪN). Vì những yêu cầu nghiêm khắc và cao thượng về đạo đức như vậy, những pháp môn tu luyện này trở thành Chính giáo từ hàng ngàn năm qua. Dù nhiều Chính phủ (xuyên suốt lịch sử từ khi Chính giáo xuất hiện) từng đàn áp hay không công nhận thì họ vẫn là Chính giáo – bởi vì đơn giản là họ tuân theo các nguyên lý của vũ trụ (ở tầng thứ khác nhau) để tu tâm tính, để đạt tiêu chuẩn tâm tính cao thượng hơn – phù hợp với chuẩn mực của các tầng vũ trụ khác nhau…

Thế gian hỗn độn, vàng - thau lẫn lộn, làm thế nào để phân định Chính – Tà?
Pháp môn tu luyện nào đặt ra yêu cầu cao về tiêu chuẩn đạo đức – thì pháp môn đó nhất định là Chính giáo. (Ảnh: youtube.com)

Ngược lại với Chính giáo, Tà giáo có thể nhận biết từ chính giáo lý của nó.

– Khuyến khích việc truy cầu để đắc được những điều tốt đẹp trong cõi người như tiêu tai, giải nạn, phát tài, sinh con trai… mà không phải qua quá trình thống khổ, nhẫn nại tu tâm, sửa tính hay rèn luyện (như Thiền định, tập Khí công chẳng hạn). Những lập luận giống như “mang miệng đến tâu, mang đầu đến khấn để Phật Thánh Cha Mẹ nhận mặt điểm tên, chứng cho…”, “có kêu, có cầu thì các Ngài mới biết, mới thương mà cho” (???) . Những người này, vì tin rằng truy cầu mà đắc, sẽ ngày một coi nhẹ việc rèn tâm sửa tính, sự truy cầu của họ ngày một lớn, dục vọng vì thế cũng ngày một lớn, dục vọng lớn đến đâu, tâm tính rớt xuống đến đấy. Đó là con đường đi ngược lại với Chính giáo. Chính giáo yêu cầu buông bỏ hết các dục vọng này, hướng con người “tùy kỳ tự nhiên”, “vô sở cầu nhi tự đắc”: không cầu thì sẽ tự được mới là điều tốt đẹp, cái gì mình đáng có được thì sẽ có, tất thẩy những thứ có được đều là do phúc phận, do biết giữ ĐỨC mà ra..

– Khuyến khích con người phải hủy hại sinh mệnh của mình, của người khác hoặc của súc vật hoặc của để hiến tế cho “THẦN” ở không gian khác. Họ tin rằng việc hiến tế sẽ cảm động “Thần”, và sinh mệnh bị hiến tế (có thể gồm cả sinh mệnh của họ) sẽ được về với thế giới của Thần. Đây là tà thuyết đi ngược lại với Từ bi của các Chính giáo là không sát sinh, yêu thương muôn loài, trân quý nhân duyên được làm người.

– Phủ nhận sự tồn tại của THẦN (vô thần luận), hoặc của Chính Thần, phủ nhận sự tồn tại của mọi không gian khác, khuyến khích con người phải nói dối, tranh đấu để tồn tại. Bởi vì, khi không tin vào sự tồn tại của Thần, không tin vào các quy luật của vũ trụ như Nhân – Quả thì điều ác nào con người cũng dám làm, họ dám hành ác vì họ không tin họ chịu quả báo, dám hành ác vì nghĩ chỉ có một đời này để sống thôi, sống cho tốt thì phải “tranh đoạt” của người khác, vì thế họ tổn Đức, Đức mà hết thì chẳng còn gì: tiền bạc, hạnh phúc, sự nghiệp, và cả sinh mạng cũng hết theo.

Mỗi một Chính giáo, đều có các Thần, Phật– các bậc Giác giả vĩ đại duy hộ cho Pháp môn của họ. Việc phỉ báng Chính giáo chỉ vì lợi ích cá nhân, vì lợi ích chính trị, vì chưa tìm hiểu Pháp lý chân chính, vì bị đầu độc mà không tự biết là tội nghiệp lớn nhất của con người, là bất hạnh lớn nhất của mọi sinh mệnh trong vũ trụ này, dù vô tình hay hữu ý. Bởi vậy, minh tỏ Chính – Tà để thủ Đức, tích Đức, bày tỏ thái độ trân trọng thích đáng với Chính giáo, với cái Thiện sẽ mang lại vinh diệu, phúc phận cho mỗi cá nhân, dân tộc hay quốc gia là vì vậy.

Đọc nhiều

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài. Trong kiếp nhân sinh này, mỗi người đều có sự lựa...

Có gì ở bệnh viện đa khoa quốc tế hơn 20.000 m2 mới khai...

Vừa qua, tại Hà Nội có thêm một bệnh viện đa khoa quốc tế hiện đại đi vào hoạt động. Chỉ sau một thời...

Cập nhật dịch COVID-19 sáng 2/3: Số người tử vong trên thế giới tăng...

Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc (NHC) hôm nay (2/3) thông báo có thêm 42 ca tử vong vì COVID-19 trong ngày...

Mặc tin đồn hẹn hò ‘bủa vây’, Bích Phương diện đồ gợi cảm dự...

Bích Phương vô cùng quyến rũ trong tiệc sinh nhật của "soái ca" Đăng Khoa. Lẻ bóng “lâu năm”, dường như các fan hâm mộ...