Sống đạo

Ở hiền thì sẽ gặp lành, ai mà nhân đức Trời dành phúc cho

Đại dịch hạch đã tiêu diệt Đế chế La Mã nhưng dường như nó không nhắm vào tất cả mọi người. Trong quan niệm văn hóa truyền thống Á Đông cũng có khái niệm gọi là “Ôn Thần”. Nếu như gặp người sống thiện lành thì Ôn Thần sẽ mở một lối thoát cho người đó trong kiếp nạn…

Ai là người có thể thoát khỏi dịch bệnh?

Bao quanh Địa Trung Hải từng có một siêu cường quốc kéo dài khắp Châu Âu, Châu Á và Châu Phi, chính là Đế chế La Mã. Nhưng Đế chế hùng mạnh này cuối cùng đã rời khỏi vũ đài lịch sử dưới sự tấn công của bốn dịch bệnh lớn. Đại ôn dịch mạnh đến mức nào mà có thể tiêu diệt cả Đế chế La Mã cường thịnh?

Nhà sử học I-va Griels mô tả về bệnh dịch hạch ở đây rằng: “Sẽ có một số người bắt đầu phát bệnh, mắt sẽ bị xung huyết, khuôn mặt bị sưng và sau đó là cổ họng bị đau khó chịu, và sau đó những người này sẽ vĩnh viễn biến mất trong đám đông. Một số người bị viêm tuyến bẹn, chảy mủ ra nên gây sốt cao. Những người này sẽ chết trong hai hoặc ba ngày”.

Bệnh dịch hoành hành, toàn bộ thành phố La Mã sực lên mùi thối rữa của xác chết ở khắp mọi nơi. Mặc dù bệnh dịch đã phá hủy một đế chế khổng lồ, hủy diệt hàng chục triệu sinh mạng nhưng có một số người đã không phải chịu bất kỳ tổn hại nào. Theo I-va Griels, “Một số người thậm chí là sống cùng với những người bị nhiễm bệnh và tiếp xúc với người đã chết, nhưng họ vẫn hoàn toàn không bị lây nhiễm”.

Bệnh dịch hoành hành đã khiến cả Đế chế La Mã hùng mạnh bị diệt vong. (Ảnh: wikipedia.org)

Bệnh dịch lớn khiến tất cả sợ hãi bàn tán dường như không nhắm vào tất cả mọi người. Theo như cách gọi dân gian của người Á Đông, liệu đó có phải là “Ôn Thần”, có phải nếu ôn dịch xem xét người nào trong sạch thì sẽ tha cho người đó? Giả sử ai đó có thể thoát khỏi bệnh dịch, họ sẽ phải là người thế nào?

Những câu chuyện dưới đây có thể phần nào giúp chúng ta có câu trả lời chăng?…

Dữu Cổn không bỏ rơi anh trai bị nhiễm bệnh

Ở triều nhà Tấn (Trung Hoa), có một ẩn sĩ tên là Dữu Cổn là chú Tấn Minh đế. Khi còn trẻ, ông nổi tiếng là siêng năng, chăm học và hiếu thảo. Thời Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm, niên hiệu Hàm Ninh (275 – 280), đại ôn dịch đã nổ ra. Hai anh trai của Dữu Cổn không may nhiễm bệnh mà chết, còn lại một người anh nữa cũng đổ bệnh.

Khi bệnh dịch ngày càng trở nên nghiêm trọng và khí bệnh tràn ngập khắp nơi, bố mẹ Dữu Cổn muốn đưa ông và các em trai ra ngoài để lánh nạn. Tuy nhiên, Dữu Cổn không chịu rời xa anh trai mình. Người thân và bạn bè đã buộc phải kéo ông đi. Dù vậy, Dữu Cổn vẫn khăng khăng ôm lấy người anh trai bị bệnh mà nói: “Ta sinh ra vốn không sợ bệnh dịch”.

Người thân và bạn bè không có cách nào thuyết phục ông rời xa anh trai mình. Sau khi họ rời đi, Dữu Cổn thức suốt đêm ân cần chăm sóc anh trai, có lúc ôm lấy anh trai mà chảy nước mắt than khóc.

Thời gian trôi nhanh, sau hơn một trăm ngày, bệnh dịch đã dần lắng xuống. Khi những người thân trở về làng, họ rất ngạc nhiên khi thấy Dữu Cổn đã ở cùng anh trai từ sớm đến tối mà vẫn an toàn và khỏe mạnh. Hơn thế, nhờ Dữu Cổn cố công chăm sóc mà người anh trai đã hoàn toàn khỏi bệnh.

Những người lớn tuổi trong làng ngạc nhiên thốt lên: “Đứa trẻ này thật kỳ lạ! Nó có thể bảo vệ những người mà không ai dám bảo vệ, làm những việc mà mọi người không dám làm. Đúng là tới mùa lạnh mới biết được sự kiên cường của cây tùng cây bách”.

Người ta mới hiểu được rằng ôn dịch hung dữ không lây truyền đến tất cả mọi người. Trước đại nạn, những người không sợ sống chết, nhất mực bảo vệ người khác thì tự khắc Trời sẽ mở cho anh ta một lối thoát.

Cao tăng cầu nguyện cho tuyết rơi giữa mùa hè để ngăn chặn bệnh dịch

Nhà Thanh, năm Quang Tự thứ 26 (năm 1900), 8 nước Đồng minh đã đánh vào Bắc Kinh. Kinh thành đại loạn khiến Từ Hy thái hậu cùng hoàng đế Quang Tự và các quần thần phải chạy đến Trường An (nay thuộc Tây An). Khánh thân vương Dịch Khuông nghe tin Hư Vân hòa thượng là cao tăng đắc đạo liền thỉnh mời ông đến bảo vệ nhà vua trên đường lánh nạn.

Khi đó, đại dịch đang hoành hành ở Trường An và cướp đi sinh mệnh của vô số người. Mùa hè tháng 8 nắng nóng gay gắt, thi thể người chết thối rữa la liệt khắp nơi, mùi hôi thối và chết chóc bủa vây toàn Trường An.

Hư Vân hòa thượng chứng kiến cảnh tượng ấy vô cùng thương xót chúng sinh, nên phát nguyện tổ chức một đại lễ cầu tuyết, cầu xin ông trời cho tuyết rơi để ngăn cản bệnh dịch. Cảm động trước uy đức của lão hòa thượng, hàng nghìn tăng nhân đã đến trước thiền tự Ngọa Long nguyện ý hết lòng tương trợ. Ở trên lễ đàn cao lớn, hòa thượng Hư Vân khoác áo cà sa tĩnh tọa ngày đêm một lòng cầu niệm trời ban tuyết xuống cứu chúng sinh thoát khỏi kiếp nạn.

Trời không phụ lòng người, quả nhiên đến ngày thứ 7 mây đen kéo đến. Buổi chiều đó xuất hiện một trận tuyết lớn. Tuy nhiên, Hư Vân hòa thượng vẫn không dừng lại ở đó. Để cầu nguyện cho hạn hán và bệnh dịch ở Thiểm Tây, Cam Túc và Ninh Hạ, ông đã ngồi đó suốt 7 ngày. Sau 7 ngày tuyết rơi, ngàn dặm trong ngoài thành Trường An đều được băng tuyết phủ kín.

Tấm lòng lương thiện chân thành của Hư Vân hòa thượng thực sự đã cảm động đến cả trời cao, nên trong mùa hè nóng bức lại xuất hiện kỳ tích xảy ra trận tuyết lớn cứu muôn dân thoát khỏi đợt đại dịch ở Trường An.

Hư Vân hòa thượng. (Ảnh: Dharmawheel)

Lòng hiếu thảo cảm động trời xanh xua đi dịch bệnh

Vào thời vua Thuận Trị (nhà Thanh) có một bệnh dịch lớn hoành hành ở thành phố Tấn Lăng. Bệnh dịch hung dữ đã lây lan nhanh chóng. Nhiều gia đình đã bị xóa sổ toàn bộ. Bệnh dịch khiến người ta trở nên lạnh lùng và sợ hãi. Vào thời điểm đó, ngay cả các thành viên trong gia đình cũng không dám đến thăm hỏi nhau và chia buồn.

Có một gia đình họ Cố ở phía đông thành phố. Chủ nhà là Hữu Thành, có con dâu tên Tiền Thị. Khi Tiền Thị vừa mới trở về nhà mẹ đẻ, Cố Thành đã nhiễm dịch bệnh. Sau đó, cả vợ ông và tám người trong nhà đều nhiễm bệnh. Tất cả không còn cách nào khác ngoài việc chờ đợi tử thần. Tiền Thị nghe tin gia đình chồng bị nhiễm bệnh, vội vã muốn trở về chăm sóc. Cha mẹ cô đã cố gắng ngăn cản nhưng Tiền Thị nói rằng: “Chồng cưới vợ về, nguyên là để chăm lo chuyện đại sự sống chết của cha mẹ chồng và người thân. Bây giờ, cha mẹ chồng của con đều bị bệnh, con không thể nhẫn tâm bỏ đi. Con làm vậy có khác gì thú vật? Sau khi con đi, nếu con có chết, cũng sẽ không dám mong được cha mẹ chiếu cố”. Nói xong Tiền Thị đi về nhà chồng một mình.

Lúc này, có một chuyện kỳ lạ đã xảy ra.

Vào ban ngày, gia đình Cố Thành nghe thấy những con ma nói với nhau: “Chư Thần đang bảo vệ người phụ nữ hiếu thảo! Nếu chúng ta không mau tránh nó, chúng ta sẽ bị trách tội!”. Sau khi Tiền Thị trở về nhà, cô chăm sóc cẩn thận 8 người trong gia đình họ Cố. Họ dần dần bình phục và sau đó tất cả đều sống sót.

***

Trong những giờ phút nguy hiểm cận kề, nhiều người sẵn sàng xả bỏ sinh mệnh của mình vì việc đại nghĩa. Đó là tấm lòng có thể cảm động đến cả quỷ Thần. Đại dịch hoành hành âu cũng là số kiếp mà Trời định ra để trừng phạt những tội lỗi của con người. Những kẻ đại ác, những người có tội sẽ phải chịu nghiệp quả tương ứng. Chỉ có người thiện lương, luôn mang chân tâm, lòng thiện và đức nhẫn nại cao thượng mới có thể bước ra ngoài lưới Trời trừng phạt. Thực đúng là:

‘Ở hiền thì sẽ gặp lành
Ai mà nhân đức Trời dành phúc cho’.

Yên Tử
Theo epochweekly

 

Chớp mắt trôi qua một kiếp người…

Chớp mắt trôi qua một kiếp người
Bi thương ái lạc gió mây trôi
Đôi tay trắng đến, đi tay trắng
Được mất hơn thua trả lại đời.

Chớp mắt trôi qua một kiếp người. Bi thương ái lạc gió mây trôi. (Ảnh: Pinterest.com)

Khổ sở làm chi những đua tranh
Nhân ái yêu thương giữ để dành
Mai này chuyển kiếp còn cơ hội
Đá nở hoa thơm phước thiện lành.

Mai này chuyển kiếp còn cơ hội. Đá nở hoa thơm phước thiện lành. (Ảnh: Pinterest.com)

Tĩnh lặng mà nghe tiếng trái tim
Cố hương quên mất lạc nẻo tìm
Hình như có tiếng ai đang gọi
Hãy trở về mau kẻo lỡ duyên.

Kim Thoa

 

 

Thuyền Pháp vàng kim chờ ta về, không ngại đường xa thoát chốn mê

Sông cứ trong sao lòng vẫn đục
Chốn hồng trần vay trả, trả vay
Nghiệp nhân duyên vạn kiếp sâu dày
Chuốc chén đào người say, ta tỉnh.

Gột rửa đi thân tâm bất tịnh
Bước lên thuyền Đại Pháp chờ ta
Đường về nhà dẫu gần dẫu xa
Lòng kiên định giúp ta vững bước.

Đắc nhân thân, ngàn năm khó được
Thấy đường về, đâu ngại gần xa…!

Song Hiếu

 

Cuộc đời rất ngắn ai ơi… Sống sao để khỏi người đời cười chê

Đố ai hiểu hết chữ đời
Sang giàu, nghèo khó chết rồi như nhau
Chết rồi đưa xuống hố sâu
Lấp xong là hết có đâu khác gì

Cho nên chớ có so bì
Đừng nên xảo quyệt chỉ vì háo danh
Đừng nên kèn cựa, đua tranh
Đừng dìm người khác để dành phần hơn.

Đừng nên kèn cựa, đua tranh. Đừng dìm người khác để dành phần hơn. (Ảnh: pinterest.com)

Đói mà đức độ, sạch thơm
Còn hơn giàu có tối om trong đầu
Phải luôn suy nghĩ trước sau
Chớ nên hám lợi quên câu nghĩa tình

Ở đời ai cũng như mình
Giàu sang chớ có coi khinh nghèo hèn
Người nghèo chớ có hờn ghen
Thấy ai giàu có đừng nên giận hờn.

Người nghèo chớ có hờn ghen. Thấy ai giàu có đừng nên giận hờn. (Ảnh: pinterest.com)

Vô tư mà sống thì hơn
Chết rồi thì của đâu chôn cùng người
Cho nên cuộc sống ở đời
Đừng nên hám lợi đánh rơi lòng mình

Sống sao cho trọn nghĩa tình
Để cho cuộc sống thanh bình thảnh thơi
Cuộc đời rất ngắn ai ơi
Sống sao để khỏi người đời cười chê…

Khắc Linh

 

 

Hội họa ‘Bát tiên say rượu’: Người tỉnh trong mê, ta mê trong tỉnh

Truyền thuyết về Bát tiên có lẽ đã bắt đầu từ thời nhà Đường. Thế nhưng nó không ngừng thay đổi qua các triều đại khác nhau. Theo truyền thuyết dân gian thời hậu Minh, Bát tiên gồm có Hán Chung Ly, Trương Quả Lão, Hàn Tương Tử, Thiết Quải Lý, Tào Quốc Cữu, Lã Động Tân, Lam Thái Hòa và Hà Tiên Cô. Các vị tiên này có gì đặc biệt?

Họ là những con người tu Đạo và đắc Đạo. Có người nói rằng họ trường sinh bất lão là do được ăn đào tiên và uống rượu tiên trong tiệc bàn đào của Vương Mẫu nương nương. Bởi để đến dự được bữa tiệc này, ngồi cùng chư vị thần tiên trên thiên giới, 8 vị bát tiên nếu không siêu xuất khỏi người thường, không đắc Đạo trở thành Thần Tiên thì sao có thể mang tư tưởng dơ xấu của những con người trần tục mà ngồi cùng chư vị Thần Tiên. Điều đó chứng tỏ họ đã tu luyện đắc Đạo và đạt trường sinh bất lão từ trước đó.

Vậy họ đã làm gì để làm được như vậy? Phải chăng đó là một bí mật?

Bát tiên (Ảnh: tinhhoa.net)

Không có phân biệt, chấp trước vào thân thế danh phận thế gian

Từ ngoại hình mà thấy thì họ rất khác nhau. Tào Quốc Cữu là thân thích của Hoàng đế; Thiết Quải Lý là một người tàn tật bị què chân và phải chống một cây gậy sắt, giống như người ăn mày; Hà Tiên Cô là một cô gái trẻ tuổi xinh đẹp; Trương Quả Lão là một cụ già tóc bạc, gương mặt hồng hào, râu tóc phất phơ, thường cưỡi ngược một con lừa; Hàn Tương Tử là cháu trai của Hàn Dũ, một nhà văn triều Đường, người thích thổi sáo; Hán Chung Ly lúc nào cũng cầm phe phẩy một cây quạt ba tiêu, v.v.

Danh phận thế gian vai vế thuộc hàng quý tộc, tới những người thấp nhất trong xã hội, từ già tới trẻ, từ nam tới nữ đều có sự khác nhau. Nhưng họ đều chung một điểm là họ đều là Tiên nhân của Đạo gia.

Điều đó nói lên rằng, thân phận thế gian chỉ là ảo tưởng, là cái tạm trong cõi trần tục này. Nó không phải là vĩnh viễn, càng không phải là điều kiện để con người thoát khỏi luân hồi hay đạt cảnh giới thoát tục mà trường sinh bất lão.

Trong lịch sử xưa kia biết bao nhiêu bậc Vương chúa đi tìm trăm vị tiên dược mà được trường sinh, câu chuyện về Trương Quả Lão, sau đây là một ví dụ:

Trương Quả Lão luyện được thuật trường sinh

Trương Quả Lão, còn gọi là Trương lão, là một trong bát tiên trong Đạo gia. Theo “Đường Thục” (Cuốn sách của nhà Đường), Trương Quả Lão là một người có thực sống trong Khiêu Trung Sơn của tỉnh Sơn Tây. Ông cho rằng mình đã luyện được thành thuật trường sinh bất lão.

Vua Đường Huyền Tông nhiều lần mời ông đến nhưng ông luôn luôn lịch sự từ chối. Hoàng hậu Võ Tắc Thiên cũng đã cố gắng mời ông tới. Để thoát lệnh này, Trương Quả Lão giả bộ chết ở phía trước 1 ngôi đền. Vào thời gian đấy, trời mùa hè nóng nực nên cơ thể ông sớm bắt đầu phân hủy và bốc mùi khủng khiếp. Hoàng hậu Võ Tắc Thiên nghe tin này, đã từ bỏ ý định. Nhưng ngay sau đó, có người thấy ông xuất hiện trong núi Hoàn Châu.

Vua Đường Huyền Tông mời ông tới nhiều lần để hỏi cách đạt được thuật trường sinh bất lão. Khi vua gặp Trương Quả Lão thấy ông già yếu hom hem như vậy, vua hỏi ông: “Khanh đã đạt được thuật Trường sinh bất lão nhưng sao trông khanh già yếu vậy, tóc thưa bạc, răng móm thế?” Trương Quả Lão trả lời, “Đến từng tuổi này thần không có phương pháp nào hết nên mới ra nỗi này! Thật là xấu hổ quá! Nếu thần bứt tóc và bẻ răng của mình ra sau đó có lẽ nào thần lại không có được những cái mới!’’

Trương Quả Lão biểu diễn trước vua Đường Huyền Tông / Ảnh: pinterest.com

Sau đó ông đứng ngay giữa trước cung điện bứt tóc bẻ răng văng ra. Hoàng đế thấy thế có một chút kinh sợ và gọi cận thần mang ông xuống nghỉ. Chỉ một chốc sau, Trương Quả Lão quay lại cung điện, với một diện mạo hoàn toàn mới: tóc đen dày, răng trắng. Các quan lại trong triều thấy thế rất kính phục, tới trước Trương Quả Lão hỏi xin phương pháp để cải lão hoàn đồng. Trương Quả Lão khước từ.

Một ngày, Đường Huyền Tông đi săn bắn và bắt được một hươu lớn. Con hươu này có 1 điểm khác với các con khác! Khi nhà bếp chuẩn bị giết nó, Trương Qủa Lão thấy vậy ngay lập tức ngăn lại. Ông nói: “Đây là con hươu thần đã sống trên ngàn năm rồi. Khi Hán Vũ Đế đi săn và bắt được nó thần đã theo ông ta và thấy ông ta thả con hươu ngay sau đó!”

Đường Huyền Tông hỏi, “Làm thế nào khanh có thể biết được đây là con hươu mà khanh thấy trước kia trong khi trên đời này có rất nhiều hươu và trải qua bao nhiêu năm như thế?”

Trương Quả Lão thưa: “Khi Hán Vũ Đế thả con hươu ông đã đánh dấu trên sừng bên trái của nó bằng một miếng đồng.”

Sau đó vua Đường Huyền Tông sai người đi kiểm tra lại và quả thật thấy 1 miếng đồng dài hai phân nhưng hầu như không thể nhận ra chữ viết trên đó nữa! Vua Đường Huyền Tông lại hỏi: “Vậy thế từ năm Hán Vũ Đế đi săn trải qua bao nhiêu năm rồi?” Trương Quả Lão thưa: Từ đó tới nay đã 852 năm trôi qua!”

Vua Đường Huyền Tông sai người đi kiểm tra lại. Người báo lên rằng thông tin đó là hoàn hoàn chính xác.

Như vậy có thể thấy, con người thế gian ngỡ tưởng rằng, những cao lương mĩ vị, những danh phận huy hoàng kia có thể trường tồn. Chính vì thế mà trong những năm tháng sống trên đời, họ không ngừng làm những việc xấu, hại người hại mình.

Phải chăng điều cơ bản là con người không chịu buông đi những thứ thuộc về thân xác, vốn được coi là ngôi nhà tạm theo tư tưởng của Phật gia. Bởi một chân lý được truyền tải phía sau bức họa này chính là: con người đều bình đẳng khi bước trên con đường tu luyện.

Vậy thì cái mà khiến cho con người có thể bước đầu siêu xuất khỏi người thường chính là coi nhẹ mưu cầu, dục vọng bản thân, coi nhẹ đi lợi ích bản thân. Nhìn nhận một cách minh bạch về thực và hư trong cõi trần tục này.

Trong say có tỉnh, trong tỉnh mà như say: Cảnh giới tư tưởng là phi thường

Bức “Túy Bát tiên đồ” – Bát tiên say rượu (Ảnh: nipic.com)

Tiêu đề bức tranh là “Bát tiên say rượu” (“Túy Bát tiên đồ”). Tại sao Bát tiên lại say rượu? “Vương Mẫu bàn đào thục, Khai hiên thiết thọ diên, Quần tiên luyến mỹ tửu, Túy đảo Diêu Trì biên” (tạm dịch: “Vương Mẫu mở hội bàn đào, Bày tiệc lớn để mừng thọ, Quần tiên luyến tiếc rượu ngon, Say ngã bên cung Diêu Trì”).

Nguyên họ là đi dự đại hội bàn đào của Vương Mẫu Nương Nương. Cây đào tiên này ba ngàn năm mới ra hoa, ba ngàn năm mới kết trái, đúng là thứ quả tiên vô cùng quý hiếm. Mỹ tửu của Vương Mẫu Nương Nương đương nhiên là thứ ngọc dịch quỳnh tương mấy ngàn năm mới có, quả là vô giá.

Đối với những bằng hữu mê rượu ngon này, thật tiếc là trên thế gian không có nơi nào mua được. Do đó tám vị tiên thấy rộng hiểu nhiều này đều uống say mèm bên cung Diêu Trì. Các bạn thấy đấy, chiếc vò rượu kia đã bị lật đổ chổng một bên rồi!

Có vị uống rượu xong thì lảo đảo xiêu vẹo, việc gì cũng không biết; có vị uống rượu xong thì say khướt nô đùa; lại có vị say rượu rồi thì ngủ mê không tỉnh. Thậm chí có vị đã say mà vẫn còn muốn thêm một bát nữa. Rõ ràng một vị đang chìa tay ra đòi, cho tôi xin bát cuối cùng.

Bát Tiên say rượu (Họa sĩ: Chương Thúy Anh)

Ta say chẳng màng công danh địa vị, ta say để chẳng tranh đấu, mưu mô. Ta say cũng để nhắm vờ đôi mắt, ta chẳng nhìn những thứ cám dỗ ta. Nào sắc, nào tình, nào danh, nào dục. Ta nhắm mắt để chẳng màng
.

Người đời mắng ta khù khờ, ngốc nghếch, nhưng ta lại biết đâu là thực ngốc ở đời

Cảnh giới tư tưởng trong Bát tiên chính là con người cần phải tỉnh trong cõi mê. Hay như Trương Quả Lão cưỡi lừa ngược vậy. Bởi ông cho rằng, con người tiến về phía trước chính là thụt lùi.

Điều này tưởng chừng như mâu thuẫn nhưng nếu lý giải cặn kẽ với hiện thực ngày nay thì dường như đó là rất phù hợp. Con người tưởng chừng như đang phát triển, đang văn minh và hiện đại, nhưng thực ra lại chính là đang tự hủy hoại chính mình.

Bởi lẽ con người càng đi xa về phía trước, thì càng xa rời đặc tính của vũ trụ, càng xa rời khỏi Đạo, thì càng khó để tu trở về, càng khó để tỉnh trong chính cái mê này.

Phải nói rằng, bức họa “Bát Tiên say rượu” là một tác phẩm có nội hàm rất thâm thúy. Nó không chỉ là cảnh giới đơn thuần, mà nó còn là một hàm ý trong tu luyện cổ xưa: tu luyện phó nguyên thần.

Chính vì vậy mà câu chuyện về Bát tiên say rượu được xuất hiện trong hí kịch, hội họa và điêu khắc Trung Quốc. Họ còn xuất hiện trong câu thành ngữ “Bát tiên quá hải, các hiển thần thông” và “Túy Bát tiên quyền” trong võ thuật

Ngày nay người ta sử dụng những tác phẩm hội họa hay điêu khắc về Bát tiên bài trí trong nhà với ý nghĩa nhắc nhở giáo huấn, hay cả những mục đích phong thủy vì những ý nghĩa của pháp khí mà Bát Tiên mang theo.

Nhưng dẫu cho thời đại nào đi chăng nữa, thì những ý nghĩa ẩn sâu bên trong bức họa Bát tiên cũng đang được người đời cảm ngộ, bí ẩn đang dần được hé mở.

Tịnh Tâm

 

 

 

 

Mộng xưa quay lại phật đường. Mộc hương thoang thoảng góc tường đầy hoa

Mộng xưa quay lại phật đường
Mộc hương thoang thoảng góc tường đầy hoa
Khóe mắt lại vương lệ nhòa
Bờ môi mím nhẹ sương mờ che mi

Mộng xưa quay lại phật đường, mộc hương thoang thoảng góc tường đầy hoa (Ảnh: imeitou.com)

Phật môn thanh tịnh hoang sơ
Án thư người tọa mực loang đầy bàn
Kinh thư phủ kín lá vàng
Phạn âm vang vọng như người ngồi đây!

Kinh thư phủ kín lá vàng, phạn âm vang vọng như người ngồi đây! (Ảnh: xuehua.us)

Tóc mây khẽ chạm đôi mày
Nhãn quang lay động mộng nay đã tàn!

Đoạn Can Lạc Hà

 

Cuộc đời từ nay thay đổi khác, nhẹ duyên trần thế trở về nhà…

Sáng sớm, trước nhà hoa nở rộ
Đến chiều, từng cánh dần héo khô
Đời người cũng ngắn ngủi như thế
Con sóng hồi luân chẳng bến bờ.

Lang thang trong mê nghìn năm nay
Kiếp này kiếp sau chịu đọa đày
Nghiệp chướng bao đời luân báo mãi
Bao giờ mới hết chuyện đắng cay?

Sáng sớm, trước nhà hoa nở rộ. Đến chiều, từng cánh dần héo khô. (Ảnh: Pinterest.com)

Tiền tài danh lợi như mây khói
Chỉ mấy mươi năm có đáng chi
Vậy mà lòng ta lưu luyến mãi
Đến khi chuyển thế còn lại gì?

Hồng trần lạnh bước cuối con đường
Mê luyến tình duyên nỗi tang thương
Ai còn ai mất sau một kiếp?
Mấy ai thấu suốt đời vô thường!

Hồng trần lạnh bước cuối con đường. Mê luyến tình duyên nỗi tang thương. (Ảnh: Pinterest.com)

Ta đứng nhìn theo phương trời xa
Duyên định nghìn năm chớp mắt qua
Cuộc đời từ nay thay đổi khác
Nhẹ duyên trần thế trở về nhà.

Hy Vọng

 

 

Ngộ: Danh lợi bôn ba một kiếp, luân hồi chìm nổi vạn năm…

Lòng thanh tịnh, cửa từ bi
Trà hoa nguyệt gợi hứng thi
Khói trầm tỏa hương tịch mịch
Bóng chiều in đóa tường vi…

Danh lợi bôn ba một kiếp
Luân hồi chìm nổi vạn năm
Một sớm phúc lành nghe Phật Pháp
Hạt thiện bén duyên bỗng nảy mầm.

Một sớm phúc lành nghe Phật Pháp. Hạt thiện bén duyên bỗng nảy mầm. (Ảnh: Facebook)

Hoa vàng mấy độ buồn lưu lạc
Giang hồ phiêu bạt chẳng dung thân
Nẻo Phật từ bi hồng đại
Cưu mang sinh mệnh cùng bần

Bụi trần phút chốc sạch lau
Gương sen chân bước đài cao
Trăng sáng lòng thiền mấy thuở
Thế gian muôn sự nước qua cầu…

Nẻo Phật từ bi hồng đại. Cưu mang sinh mệnh cùng bần. (Ảnh: Youtube.com)

Văn Nhược

 

 

Thiện tâm là sức mạnh lớn nhất để cảm hóa lòng người

Trong xã hội hiện nay, nếu có người nói với bạn cần phải làm người lương thiện, có phải nghe như họ đang bảo bạn làm kẻ ngốc không?

Câu nói “người lương thiện bị người ta ức hiếp” đã trở thành khái niệm phổ biến được mọi người chấp nhận rồi. Thực ra, đây chính là do đạo đức của toàn bộ xã hội đã trượt dốc, quan niệm đã biến đổi mới nên cơ sự này. Thế thì thiện rốt cuộc có ý nghĩa gì? Sức mạnh của thiện lớn ra sao? Chúng ta cùng xem người xưa làm việc thiện như thế nào nhé.

Thiện tâm khoan thứ kẻ say rượu

Vương Minh Thịnh người Gia Định Giang Tô là bảng nhãn năm Giáp Tuất thời Càn Long, làm quan đến chức Nội các Học sỹ. Một hôm, khi ông nhàn rỗi ở nhà, có một kẻ vô lại say rượu đến trước cổng nhà ông chửi rủa. Người gác cổng thấy khó coi, vất vả lắm mới khiến anh ta ngừng chửi rủa.

Hôm sau kẻ vô lại tỉnh rượu, mẹ anh ta dắt anh ta đến nhà Vương Minh Thịnh xin thỉnh tội. Vương Minh Thịnh vốn không coi đó là chuyện gì, ông cười đáp tạ rằng: “Hôm qua cậu say rượu rồi, tôi không trách cậu, nhưng sau này chớ uống rượu rồi chửi rủa lung tung người ta, nếu không thì sớm hay muộn cũng sẽ gặp phải tai họa đó”.

Người này trở về, từ đó bỏ rượu cả đời, cũng không gây bất kỳ chuyện phiền phức nào nữa.

Nếu Vương Minh Thịnh nghiêm trị kẻ vô lại say rượu thì chỉ tạo thêm oán hận. Nhưng chỉ một câu nói chân thành khuyên bảo vì tốt cho anh ta khiến người kia từ đó trở đi đã cải tà quy chính. Đây chính là sức mạnh của thiện tâm và khoan thứ. Thiện tâm và khoan thứ thực sự có thể thay đổi và cảm hóa con người, là phương thức hay tránh oán hận và mâu thuẫn.

Thiện tâm khoan thứ nô tỳ mắc lỗi

Lục Ngọc Trân là vợ của Từ Ấn Hương người Tiền Đường, cô tính tình nhân từ, đoan trang, nhã nhặn. Trong nhà có hai tỳ nữ, một cô là Lai Hỷ, một cô là Lai Khánh, Lục Ngọc Trân đối xử vô cùng tốt với họ, lo ăn mặc chu đáo. Khi họ bị bệnh, cô luôn hết sức mình giúp họ chữa trị. Buổi tối, cô còn thắp đèn dạy họ học chữ, đọc sách. Cho dù họ đôi lúc mắc lỗi lầm thì Lục Ngọc Trân cũng chỉ nhắc nhở giáo dục họ mà thôi, chưa bao giờ đánh đòn họ.

Một hôm, lúc sắp ăn trưa, tỳ nữ Lai Hỷ bưng canh lên, do bất cẩn đã đánh đổ bát canh. Canh nóng đổ lên tay và y phục của Lục Ngọc Trân. Lai Hỷ sợ bị mắng chửi đã òa lên khóc. Lục Ngọc Trân bình thản tự nhiên nói với Lai Hỷ rằng: “Y phục bẩn rồi cũng không đáng tiếc, còn có thể giặt sạch. Tay đau một chút thì cũng hết, bát vỡ thì càng không đáng kể gì. Hơn nữa đây chỉ là do cô vô ý thôi”.

Nói rồi, Lục Ngọc Trân còn ra sức an ủi Lai Hỷ, không hề có một chút ý trách móc nào.

Phạm lỗi không bị tức giận đánh mắng trách tội, trái lại còn được bà chủ ra sức an ủi. Gặp phải chuyện như thế này thử hỏi có người nào là không cảm động và cảm ân?

(Ảnh minh họa: youtube.com)

Thiện tâm cảm hóa kẻ trộm

Thời nhà Thanh có một cụ già đức cao vọng trọng, ông giàu có lại thích tích đức hành thiện. Giao thừa một năm nọ, ông chuẩn bị lên nhà chính dự tiệc gia đình, hai nô tỳ cầm đèn đi trước dẫn đường. Khi đi qua góc sân, ông ngẩng đầu thấy trên cây có người, bèn dừng chân lại, bảo hai nô tỳ để đèn xuống, đem rượu và thức ăn đến. Rồi ông lại mượn cớ sai gia nhân đi nơi khác, sau đó mới ngẩng đầu nói: “Vị quân tử trên cây, ở đây đã không còn ai nữa, mau xuống đi”.

Người trên cây sợ quá dường như rơi xuống. Cụ già nói: “Cậu không phải sợ, lão phu sao có thể nhẫn tâm bắt cậu được?”

Người này liền quỳ xuống dập đầu xưng tội chết. Cụ già nhìn xem, thì ra là người hàng xóm. Thế là cụ mời anh ta lại cùng ăn, vừa ăn vừa trò chuyện. Cụ hỏi anh ta có nhu cầu gì không, người hàng xóm khóc nói: “Nhà con còn mẹ già, gặp năm mất mùa, đã không còn gì ăn Tết nữa rồi. Con nghĩ nhà cụ xưa nay rất giàu có, do đó đã làm việc xấu xa này. Hôm nay cụ không truy cứu tội của con, con đâu dám có tham vọng gì nữa”.

Nói rồi anh ta lại khóc nấc lên. Cụ già nói: “Tôi đã không chu tế cho hàng xóm, khiến cậu phải làm việc bất hảo này, đây đều là lỗi của lão phu. Bây giờ cậu ăn no đi, tôi sẽ cho cậu 30 lạng bạc. Ăn Tết xong cậu có thể làm ăn buôn bán nhỏ, như thế cũng có thể sống được rồi. Không nên làm việc này nữa, vào người khác thì họ sẽ không tha cho cậu đâu, hơn nữa còn đẩy mẹ cậu chịu tiếng bất nghĩa. Một khi đã thành trộm cướp thì vĩnh viễn không thể rửa sạch được”.

Người hàng xóm ăn uống no nê rồi, cụ già đưa bạc cho anh ta, dùng túi vải gói thức ăn đưa cho anh ta rồi dẫn anh ta đến bức tường và nói: “Cái này trở về đưa cho mẹ cậu. Cậu vẫn cứ theo đường cũ này ra, chớ để gia nhân của tôi biết, cậu sẽ vĩnh viễn không ăn nói với người khác được”.

Người hàng xóm trở về liền cải tà quy chính. Sau khi mẹ anh ta qua đời, anh xuất gia làm tăng nhân, một lòng khổ tu, trở thành phương trượng nổi tiếng của chùa Linh Ẩn Tây Hồ. Khi cụ già qua đời, vị phương trượng này vượt ngàn dặm trở về đưa tang, đồng thời kể lại câu chuyện năm xưa của mình cho mọi người, đem việc thiện của cụ già lan truyền xa.

Câu chuyện này nói cho chúng ta biết sức mạnh của thiện tâm cảm hóa lòng người.

Thiện lương độ lượng, nghĩ cho người khác

Trương Tri Thường người Bắc Tống là người lương thiện, hơn nữa lại khoan hồng độ lượng, làm việc gì cũng nghĩ cho người khác.

Khi Trương Tri Thường ở Thái học, người nhà nhờ người đem cho ông 10 lạng vàng. Người cùng ký túc xá thừa cơ Trương Tri Thường ra ngoài có việc đã mở rương lấy vàng đem đi.

Quan lại nhà trường triệu những người ở cùng ký túc xá tiến hành lục soát, kết quả tìm được vàng. Trương Tri Thường cho rằng nếu thừa nhận vàng của mình thì người này ắt sẽ chịu hình phạt, hơn nữa anh ta sẽ cảm thấy vô cùng nhục nhã dưới con mắt chăm chăm của mọi người, không biết trốn vào đâu. Thế là Trương Tri Thường liền nói: “Đây không phải vàng của tôi”.

Người lấy trộm vàng kia đã bị cảm động bởi sự thiện lương của Trương Tri Thường, thế là thừa lúc đêm xuống đem số vàng đó giấu trong tay áo trả lại Trương Tri Thường. Trương Tri Thường biết rõ anh ta rất nghèo khó bèn tặng anh ta một nửa số vàng.

Mọi người đều nói, tặng người ta vàng thì việc này mọi người đều có thể dễ dàng làm được. Nhưng tìm thấy vàng bị ăn trộm mà không nhận thì người khác không làm được. Trương Tri Thường sở dĩ có thể làm được là vì anh luôn có cái tâm nghĩ cho người khác. Nếu không có thiện tâm đủ lớn, nếu không có cảnh giới cao của thiện hoàn toàn không có tư tâm, luôn nghĩ cho người khác thì không thể làm nổi.

(Ảnh minh họa: youtube.com)

Một việc thiện tiêu trừ bệnh tật

Thời nhà Thanh, có một cụ già sống bên cầu Khắc Bảo cửa Đông huyện Vô Tích. Bởi vì quanh năm cụ bị chứng nấc nên mọi người gọi là cụ Nấc.

Một hôm, cụ Nấc đến quán trà, ngẫu nhiên nhặt được một tay nải. Mở ra xem cụ thấy bên trong toàn là vàng bạc châu báu. Cụ Nấc trong lòng thầm nghĩ: “Mình là người cũng già cả sắp chết rồi, đâu cần dùng đến những thứ này”.

Thế là cụ Nấc không về nhà mà ở lại đó chờ người đánh mất.

Một lúc sau, một bà lão loạng choạng đến, vừa khóc vừa như tìm vật gì. Cụ Nấc bước đến hỏi rõ nguyên nhân rồi đem tay nải trả lại cụ bà. Cụ bà cảm tạ mãi rồi đi.

Cụ Nấc về đến nhà, bỗng nhiên hoa mắt buồn nôn, rồi nôn ra một cục đờm cứng, rắn như da trâu. Từ đó trở đi, chứng bệnh nấc của cụ liền khỏi hẳn, hơn nữa cụ sau này sống rất thọ, gia cảnh nếp nhà dần dần hưng thịnh.

Một niệm thiện của cụ Nấc mà căn bệnh mãn tính liền biến mất, nếp nhà hưng thịnh, đây chính là “Trời phù hộ người thiện lương” và “Thiện có thiện báo”. Chẳng thế mà các cụ già vẫn thường răn dạy con cháu: “Làm người phải làm nhiều việc thiện tích đức, như thế mới có được phúc báo, đón nhận may mắn”.

Chớ thấy việc thiện nhỏ mà không làm

Những năm Đại Quán thời Tống Huy Tông, có một anh học trò đến một cửa hiệu ở kinh thành. Anh nhìn thấy đôi ủng giống như đôi ủng của cha anh khi khâm liệm. Anh hỏi ông chủ, người chủ trả lời: “Hôm qua có một vị quan nhân đi qua đây, muốn tôi sửa giúp đôi ủng này, lát nữa ông ấy sẽ đến lấy”.

Anh học trò này bèn đứng một bên chờ đợi. Một lúc sau, có người cưỡi ngựa đến. Quả nhiên ông ta xuống ngựa lấy ủng. Anh học trò nhìn người này đích thị là cha mình. Cha anh lấy ủng xong liền ra đi. Anh học trò ở phía sau gọi lớn: “Cha, sao cha nỡ lòng nào không nói một câu dạy bảo con?”

Người cha quay đầu lại nói với anh rằng: “Con làm người cần phải giống Cát Phồn”.

Người con lại hỏi: “Cát Phồn là ai?”

Người cha nói: “Ông ấy là Thái thú Trấn Giang. Âm phủ đã lập tượng Cát Phồn để thắp hương lễ bái rồi”.

Nói rồi liền không thấy người đâu nữa.

Anh học trò liền đến Trấn Giang bái kiến Cát Phồn, kể lại cho ông ấy chuyện này. Đồng thời anh thỉnh giáo Cát Phồn hàng ngày tu dưỡng mình như thế nào. Cát Phồn đáp: “Tôi rất nỗ lực làm việc thiện. Có lúc một ngày làm 4, 5 việc thiện, lúc nhiều thậm chí một, hai chục việc thiện. Đến nay đã làm như vậy 40 năm rồi, chưa từng gián đoạn”.

Anh học trò bèn hỏi ông hành thiện như thế nào. Cát Phồn chỉ chỉ cái để chân ở giữa những chiếc ghế ngồi và nói: “Giống như những cái để chân này, nếu để lệch, trở ngại đến chân của người ta thì tôi liền xếp lại ngay ngắn. Nếu người khác khát nước thì tôi liền tiện tay đem một ly nước đến cho họ. Đây đều là những việc lợi ích cho người khác. Những lời nói hành động rất nhỏ đều có chỗ lợi ích cho người khác. Từ người hiển đạt thông tuệ cho đến người ăn xin đều có thể làm việc thiện được. Nhưng cần phải kiên trì thường hằng thì mới thấy được lợi ích”.

Cát Phồn sau này thọ cao, ngồi tọa hóa, con cháu phú quý dài lâu.

Người xưa nói “Chớ thấy việc thiện nhỏ mà không làm”. Trong lòng thường có thiện niệm thì mới có thể nhìn ra những việc thiện có thể làm. Cứ kiên trì tiếp tục hành thiện thì sẽ cảm nhận được thế nào là “Trời phù hộ người thiện lương”.

Theo mhradio.org

Kiến Thiện biên dịch

 

 

Người mà lòng ôm chí lớn, trước hết phải bao dung được cha mẹ mình

Hết thảy tiền tài, danh dự, địa vị, đều chỉ là cái vỏ bề ngoài, đức hạnh mới là điều căn bản. “Lấy đức dày chở muôn vật” câu nói này vốn không hư giả chút nào.

Chúng ta đều là được cha mẹ sinh ra và nuôi lớn, nhưng mỗi cha mẹ đều không hẳn là con người hoàn mỹ như ta mong muốn, đều có những vấn đề này hay vấn đề kia. Và chính những vấn đề này, đã trở thành cái cớ cho rất nhiều người không nguyện ý hiếu thuận cha mẹ.

Ví dụ có những cha mẹ tính khí nóng nảy, có những cha mẹ (đối với con cái) bên trọng bên khinh, có những cha mẹ ít học nghèo khổ, có những cha mẹ quan niệm lạc hậu cố chấp, có những cha mẹ thân thể không được toàn vẹn, đặc biết là cha mẹ tuổi tác đã già, đầu óc không còn linh hoạt nữa, thân thể có mùi, nhiều khi còn đại tiểu tiện ngay trên giường, tính khí càng trở nên khó chịu, v.v…..

Cha mẹ là đối tượng đầu tiên trong tu dưỡng của chúng ta, mỗi người đều phải bắt đầu từ cha mẹ nơi mà học được bao dung và yêu thương. Cha mẹ dù có thế nào, chúng ta đều phải yêu thương họ, hiếu kính họ, tôn trọng họ. Một người nếu mà ngay đến cả cha mẹ cũng đều không chịu bao dung, khẳng định là “kẻ tiểu nhân” thường hay tính toán so đo, lòng dạ hẹp hòi, không có phúc khí lớn.

Không có phúc khí lớn, vậy làm sao có thể thành tựu được đại sự? Vậy nên các bậc hoàng đế thời xưa khi tuyển chọn quan viên đều sẽ đặt những người có lòng hiếu thảo ở vị trí đầu tiên.

Cũng vậy, những ai lựa chọn bạn đời, nhất định phải xem người đó có lòng hiếu thảo hay không ở vị trí đầu tiên, người bạn trai đó đối với cha mẹ mình có tình cảm trách nhiệm hay không, cô bạn gái đó đối với cha mẹ có lễ phép ngoan ngoãn vâng lời hay không, đối với cha mẹ là đòi hỏi hay là báo ân.

Nếu không, người mà ngay đến cả cha mẹ cũng đều không thể bao dung, sau này cũng sẽ không thể bao dung cho những thiếu sót của bạn, cũng như thiếu sót của cha mẹ bạn. Trên đường đời, nhân duyên của loại người này cũng sẽ không tốt đẹp được đến đâu.

Làm người thì nhất định phải học cách sống bao dung, khoáng đạt (Ảnh: Unsplash).

Là cha mẹ người ta, thì bất kể con cái của mình có như thế nào đi nữa, đều sẽ yêu thương nó, nuôi nấng nó, mong sao con cái sau này có được tiền đồ sáng lạn, cả một đời thuận lợi bình an, vui vẻ hạnh phúc.

Tuy vậy, nếu như những người đã làm cha làm mẹ rồi ngay đến cả tấm lòng bao dung cha mẹ của mình cũng đều không có, con cái của họ ngay từ khi còn nhỏ đã nghe quen tai, nhìn quen mắt, thử hỏi chúng làm sao có được một con tim tấm lòng rộng mở đây?

Không có tấm lòng rộng mở, đời người đâu đâu cũng đều sẽ gặp phải chướng ngại, thì thử hỏi tiền đồ sáng lạn ở đâu ra đây? Vui vẻ hạnh phúc ở đâu ra đây? Sau này khi con cái lớn lên, cha mẹ tuổi tác đã già cần được con cái săn sóc, con cái chắc chắn sẽ so đo tính toán với cha mẹ.

Làm người cần phải tận tròn đạo hiếu, đây là bước đầu tiên để thay đổi vận mệnh. Bởi chúng ta làm người, ngay đến cả cha mẹ có ơn sinh thành dưỡng dục với mình cũng đều không bao dung được, vậy thì thử hỏi làm sao có thể có được tấm lòng bao dung được cả thiên hạ rộng lớn đây?

Làm cha mẹ người ta, nếu như muốn con cái có được đường đời hạnh phúc, thuận lợi, bản thân cần phải hiếu thuận với cha mẹ già; người mà lòng ôm chí lớn, trước hết cần phải làm được từ bao dung cha mẹ của mình, cần phải bao dung được bản tính cố chấp của cha mẹ, tận tâm tận tụy chăm sóc tốt cha mẹ, đây cũng là bước đầu tiên trong việc tu tâm dưỡng tính.

Theo dkn

 

 

 

 

 

 

 

Đọc nhiều

Mặc tin đồn hẹn hò ‘bủa vây’, Bích Phương diện đồ gợi cảm dự...

Bích Phương vô cùng quyến rũ trong tiệc sinh nhật của "soái ca" Đăng Khoa. Lẻ bóng “lâu năm”, dường như các fan hâm mộ...

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài. Trong kiếp nhân sinh này, mỗi người đều có sự lựa...

Có gì ở bệnh viện đa khoa quốc tế hơn 20.000 m2 mới khai...

Vừa qua, tại Hà Nội có thêm một bệnh viện đa khoa quốc tế hiện đại đi vào hoạt động. Chỉ sau một thời...

Cập nhật dịch COVID-19 sáng 2/3: Số người tử vong trên thế giới tăng...

Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc (NHC) hôm nay (2/3) thông báo có thêm 42 ca tử vong vì COVID-19 trong ngày...