Phật giáo với đời sống xã hội

Phật nhìn nhân tâm, không thực tu sao thành chính quả?

Những vụ việc người tu hành không hành xử đúng với đạo, thậm chí vi phạm luật pháp thỉnh thoảng lại bôi một vết nhơ lên cộng đồng tu luyện. Không phải Pháp không tốt, Đạo không hay, mà là người xuất gia chưa quyết tâm tu bỏ những tính xấu hoặc mục đích tu luyện chưa đúng đắn. Trong lịch sử đã ghi lại nhiều câu chuyện cảnh tỉnh người không thực tu vẫn còn nguyên giá trị.

Mới đây lại có vụ việc một người tu hành, chỉ vì xích mích trong khi tham gia giao thông mà đã gây gổ, tấn công làm hỏng tài sản của người khác. Là một công dân bình thường, tâm tính nóng nảy, hung hãn và vô lối đã là không thể chấp nhận được. Là người tu, thì càng không thể hành sự tùy tiện mà làm hoen ố tấm áo mình đang mang trên thân.

Từ cổ chí kim, người tu hành đều coi trong việc tu tâm dưỡng tính. Nhưng cũng có những người tu luyện vẫn lưu giữ những suy nghĩ không trong sạch. Câu chuyện được ghi chép trong lịch sử dưới đây cho thấy cuối cùng kết quả nào sẽ xảy ra khi người tu không chịu buông tâm xuống mà chỉ giả tu hình thức.

Thời Bắc Ngụy, trong ngôi chùa Sùng Chân, thành Lạc Dương có hòa thượng Huệ Ngưng, chết rồi sau bảy ngày còn sống lại. Khi sống lại, ông nói: “Diêm Vương đọc hồ sơ của ta, phát hiện nhìn nhầm tên, vì lẽ đó đem ta trở về”. Huệ Ngưng sau này đã kể lại chi tiết hơn về sự tình.

Ông nói lúc đó đến trước mặt Phán quan còn có năm vị hòa thượng khác. Một là hòa thượng Trí Thánh của chùa Bảo Minh, do ngồi thiền khắc khổ tu hành đã được lên Thiên Thượng. Hai là một hòa thượng của chùa Bàn Nhược do có thể đọc thuộc lòng bộ Kinh Niết Bàn 40 quyển, thực tu tinh tấn nên cũng được lên Thiên Thượng.

Ảnh minh họa: Xuehua.

Người thứ ba là hòa thượng Đàm Mô của chùa Dung Giác, vị này có thể giảng thuyết cả kinh Niết Bàn và Hoa Nghiêm, đến nghe ông giảng thường có hơn ngàn người mỗi lần. Nhưng Diêm Vương nhìn rõ chân tơ kẽ tóc, liền nói: “Trong khi giảng bài trong tâm ngươi luôn nghĩ về việc mình không như những người khác, lấy ngạo khí đối xử với vạn vật, đây là hòa thượng không có tiền đồ nhất. Ta hiện tại chỉ nhìn đã có thể biết ngươi không ngồi thiền tụng kinh, mặc kệ ngươi có giảng hay không giảng kinh”. Đàm Mô nhất thời đáp lại rằng: “Tôi chỉ thích giảng kinh, thực sự chưa quen tụng kinh”. Diêm Vương liền hạ lệnh, lập tức có mười người áo đen đem vị hòa thượng giải về phía Tây Bắc của căn phòng, nơi đó toàn một màu đen tối bao trùm, xem ra không phải là một nơi tốt lành gì.

Người thứ tư là Đạo Hoằng của chùa Thiện Lâm. Vị này nói mình đã dạy được bốn thế hệ đồ đệ và làm nên mười bức tượng Phật. Ông ấy nghĩ mình có thể lên Thiên Thượng. Thế nhưng Diêm Vương lại nói: “Người xuất gia nhất định phải chuyên tâm thủ đạo, toàn tâm toàn ý ngồi thiền tụng kinh, mặc kệ thế sự, không làm vì truy cầu. Ngươi tuy rằng đúc tượng Phật nhưng lại là vì muốn lấy tài vật của người khác, lấy được tài vật rồi sẽ sản sinh lòng tham, có lòng tham chính là không loại trừ tam độc (tham, sân, si), không loại trừ tam độc sẽ có phiền não”. Ông này sau đó cũng bị đưa vào phòng tối.

Người thứ năm là Bảo Minh của chùa Linh Giác. Vị này nói trước khi tu luyện đã từng là Thái thú Lũng Tây, chính là người xây nên chùa Linh Giác, sau đó xuất gia tu Phật. Tuy rằng không ngồi thiện tụng kinh, nhưng có thể lễ bài đúng hạn. Diêm Vương ra phán quyết đối với vị này rằng: “Lúc ngươi làm Thái thú, làm trái đạo lý, ăn hối lộ, mượn danh nghĩa sửa chùa, trắng trợn cướp đoạt mồ hôi nước mắt của nhân dân. Ngôi chùa này dựng được cũng không phải công lao của ngươi, không cần tự mình khoe thành tích”. Sau đó y cũng bị những người áo đen giải về phòng tối.

Ảnh minh họa: Tinmoi.

Thái hậu nước Tây Ngụy (một triều đại thuộc thời Nam Bắc triều) nghe Huệ Ngưng nói bán tín bán nghi, liền phái Thị lang Hoàng Môn đi điều tra về các vị hòa thượng trong câu chuyện kia. Khi đi xem xét, quả thật có những ngôi chùa và những vị hòa thượng tên như vậy tồn tại ở trong thành. Thái hậu lúc này mới tin tưởng nhân quả là chân thật, bèn mời 100 vị hòa thượng trường kỳ tụng niệm ở trong cung. Đồng thời, bà cũng ban bố lệnh cấm các nhà sư đi quyên góp tài vật đúc tượng Phật. Ngoài ra, triều đình còn chiêu cáo rằng nếu có người muốn quyên tặng làm tượng Phật thì tự họ có thể làm tượng mà không cần nhờ thầy chùa.

Hòa thượng Huệ Ngưng sau đó cũng lên núi Bạch Lộc ẩn cư tu luyện. Khắp một vùng kinh thành từ đó các hòa thượng đều chuyên tâm ngồi thiện tụng kinh, tăng cường tu luyện bản thân.

Chuyện cũ này được lưu lại cũng là để đánh thức người tu hành, thực hành cải thiện bản thân, tu tâm tính là điều quan trọng, những việc làm hình thức khác cũng như ảo mộng. Phật chỉ nhìn nhân tâm, không nhìn những thành tích bề mặt. Đừng chỉ tìm tới cửa Phật để cầu mong một lối thoát, chờ đợi phúc báo, thành tựu mà không thực tâm tu bỏ tâm xấu. Nếu còn lợi dụng việc tu hành để kiếm tiền, kiếm danh từ sự sùng bái, tín ngưỡng của quần chúng thì còn đắc trọng tội. Đừng thấy nhân tình thế thái hữu hạn mà coi thường hậu họa. Nhân sinh vô thường, có rất nhiều điều ta không biết nhưng bi thảm có lẽ đang chờ đợi sẵn rồi.

 

 

Ở hiền thì sẽ gặp lành, ai mà nhân đức Trời dành phúc cho

Đại dịch hạch đã tiêu diệt Đế chế La Mã nhưng dường như nó không nhắm vào tất cả mọi người. Trong quan niệm văn hóa truyền thống Á Đông cũng có khái niệm gọi là “Ôn Thần”. Nếu như gặp người sống thiện lành thì Ôn Thần sẽ mở một lối thoát cho người đó trong kiếp nạn…

Ai là người có thể thoát khỏi dịch bệnh?

Bao quanh Địa Trung Hải từng có một siêu cường quốc kéo dài khắp Châu Âu, Châu Á và Châu Phi, chính là Đế chế La Mã. Nhưng Đế chế hùng mạnh này cuối cùng đã rời khỏi vũ đài lịch sử dưới sự tấn công của bốn dịch bệnh lớn. Đại ôn dịch mạnh đến mức nào mà có thể tiêu diệt cả Đế chế La Mã cường thịnh?

Nhà sử học I-va Griels mô tả về bệnh dịch hạch ở đây rằng: “Sẽ có một số người bắt đầu phát bệnh, mắt sẽ bị xung huyết, khuôn mặt bị sưng và sau đó là cổ họng bị đau khó chịu, và sau đó những người này sẽ vĩnh viễn biến mất trong đám đông. Một số người bị viêm tuyến bẹn, chảy mủ ra nên gây sốt cao. Những người này sẽ chết trong hai hoặc ba ngày”.

Bệnh dịch hoành hành, toàn bộ thành phố La Mã sực lên mùi thối rữa của xác chết ở khắp mọi nơi. Mặc dù bệnh dịch đã phá hủy một đế chế khổng lồ, hủy diệt hàng chục triệu sinh mạng nhưng có một số người đã không phải chịu bất kỳ tổn hại nào. Theo I-va Griels, “Một số người thậm chí là sống cùng với những người bị nhiễm bệnh và tiếp xúc với người đã chết, nhưng họ vẫn hoàn toàn không bị lây nhiễm”.

Bệnh dịch hoành hành đã khiến cả Đế chế La Mã hùng mạnh bị diệt vong. (Ảnh: wikipedia.org)

Bệnh dịch lớn khiến tất cả sợ hãi bàn tán dường như không nhắm vào tất cả mọi người. Theo như cách gọi dân gian của người Á Đông, liệu đó có phải là “Ôn Thần”, có phải nếu ôn dịch xem xét người nào trong sạch thì sẽ tha cho người đó? Giả sử ai đó có thể thoát khỏi bệnh dịch, họ sẽ phải là người thế nào?

Những câu chuyện dưới đây có thể phần nào giúp chúng ta có câu trả lời chăng?…

Dữu Cổn không bỏ rơi anh trai bị nhiễm bệnh

Ở triều nhà Tấn (Trung Hoa), có một ẩn sĩ tên là Dữu Cổn là chú Tấn Minh đế. Khi còn trẻ, ông nổi tiếng là siêng năng, chăm học và hiếu thảo. Thời Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm, niên hiệu Hàm Ninh (275 – 280), đại ôn dịch đã nổ ra. Hai anh trai của Dữu Cổn không may nhiễm bệnh mà chết, còn lại một người anh nữa cũng đổ bệnh.

Khi bệnh dịch ngày càng trở nên nghiêm trọng và khí bệnh tràn ngập khắp nơi, bố mẹ Dữu Cổn muốn đưa ông và các em trai ra ngoài để lánh nạn. Tuy nhiên, Dữu Cổn không chịu rời xa anh trai mình. Người thân và bạn bè đã buộc phải kéo ông đi. Dù vậy, Dữu Cổn vẫn khăng khăng ôm lấy người anh trai bị bệnh mà nói: “Ta sinh ra vốn không sợ bệnh dịch”.

Người thân và bạn bè không có cách nào thuyết phục ông rời xa anh trai mình. Sau khi họ rời đi, Dữu Cổn thức suốt đêm ân cần chăm sóc anh trai, có lúc ôm lấy anh trai mà chảy nước mắt than khóc.

Thời gian trôi nhanh, sau hơn một trăm ngày, bệnh dịch đã dần lắng xuống. Khi những người thân trở về làng, họ rất ngạc nhiên khi thấy Dữu Cổn đã ở cùng anh trai từ sớm đến tối mà vẫn an toàn và khỏe mạnh. Hơn thế, nhờ Dữu Cổn cố công chăm sóc mà người anh trai đã hoàn toàn khỏi bệnh.

Những người lớn tuổi trong làng ngạc nhiên thốt lên: “Đứa trẻ này thật kỳ lạ! Nó có thể bảo vệ những người mà không ai dám bảo vệ, làm những việc mà mọi người không dám làm. Đúng là tới mùa lạnh mới biết được sự kiên cường của cây tùng cây bách”.

Người ta mới hiểu được rằng ôn dịch hung dữ không lây truyền đến tất cả mọi người. Trước đại nạn, những người không sợ sống chết, nhất mực bảo vệ người khác thì tự khắc Trời sẽ mở cho anh ta một lối thoát.

Cao tăng cầu nguyện cho tuyết rơi giữa mùa hè để ngăn chặn bệnh dịch

Nhà Thanh, năm Quang Tự thứ 26 (năm 1900), 8 nước Đồng minh đã đánh vào Bắc Kinh. Kinh thành đại loạn khiến Từ Hy thái hậu cùng hoàng đế Quang Tự và các quần thần phải chạy đến Trường An (nay thuộc Tây An). Khánh thân vương Dịch Khuông nghe tin Hư Vân hòa thượng là cao tăng đắc đạo liền thỉnh mời ông đến bảo vệ nhà vua trên đường lánh nạn.

Khi đó, đại dịch đang hoành hành ở Trường An và cướp đi sinh mệnh của vô số người. Mùa hè tháng 8 nắng nóng gay gắt, thi thể người chết thối rữa la liệt khắp nơi, mùi hôi thối và chết chóc bủa vây toàn Trường An.

Hư Vân hòa thượng chứng kiến cảnh tượng ấy vô cùng thương xót chúng sinh, nên phát nguyện tổ chức một đại lễ cầu tuyết, cầu xin ông trời cho tuyết rơi để ngăn cản bệnh dịch. Cảm động trước uy đức của lão hòa thượng, hàng nghìn tăng nhân đã đến trước thiền tự Ngọa Long nguyện ý hết lòng tương trợ. Ở trên lễ đàn cao lớn, hòa thượng Hư Vân khoác áo cà sa tĩnh tọa ngày đêm một lòng cầu niệm trời ban tuyết xuống cứu chúng sinh thoát khỏi kiếp nạn.

Trời không phụ lòng người, quả nhiên đến ngày thứ 7 mây đen kéo đến. Buổi chiều đó xuất hiện một trận tuyết lớn. Tuy nhiên, Hư Vân hòa thượng vẫn không dừng lại ở đó. Để cầu nguyện cho hạn hán và bệnh dịch ở Thiểm Tây, Cam Túc và Ninh Hạ, ông đã ngồi đó suốt 7 ngày. Sau 7 ngày tuyết rơi, ngàn dặm trong ngoài thành Trường An đều được băng tuyết phủ kín.

Tấm lòng lương thiện chân thành của Hư Vân hòa thượng thực sự đã cảm động đến cả trời cao, nên trong mùa hè nóng bức lại xuất hiện kỳ tích xảy ra trận tuyết lớn cứu muôn dân thoát khỏi đợt đại dịch ở Trường An.

Hư Vân hòa thượng. (Ảnh: Dharmawheel)

Lòng hiếu thảo cảm động trời xanh xua đi dịch bệnh

Vào thời vua Thuận Trị (nhà Thanh) có một bệnh dịch lớn hoành hành ở thành phố Tấn Lăng. Bệnh dịch hung dữ đã lây lan nhanh chóng. Nhiều gia đình đã bị xóa sổ toàn bộ. Bệnh dịch khiến người ta trở nên lạnh lùng và sợ hãi. Vào thời điểm đó, ngay cả các thành viên trong gia đình cũng không dám đến thăm hỏi nhau và chia buồn.

Có một gia đình họ Cố ở phía đông thành phố. Chủ nhà là Hữu Thành, có con dâu tên Tiền Thị. Khi Tiền Thị vừa mới trở về nhà mẹ đẻ, Cố Thành đã nhiễm dịch bệnh. Sau đó, cả vợ ông và tám người trong nhà đều nhiễm bệnh. Tất cả không còn cách nào khác ngoài việc chờ đợi tử thần. Tiền Thị nghe tin gia đình chồng bị nhiễm bệnh, vội vã muốn trở về chăm sóc. Cha mẹ cô đã cố gắng ngăn cản nhưng Tiền Thị nói rằng: “Chồng cưới vợ về, nguyên là để chăm lo chuyện đại sự sống chết của cha mẹ chồng và người thân. Bây giờ, cha mẹ chồng của con đều bị bệnh, con không thể nhẫn tâm bỏ đi. Con làm vậy có khác gì thú vật? Sau khi con đi, nếu con có chết, cũng sẽ không dám mong được cha mẹ chiếu cố”. Nói xong Tiền Thị đi về nhà chồng một mình.

Lúc này, có một chuyện kỳ lạ đã xảy ra.

Vào ban ngày, gia đình Cố Thành nghe thấy những con ma nói với nhau: “Chư Thần đang bảo vệ người phụ nữ hiếu thảo! Nếu chúng ta không mau tránh nó, chúng ta sẽ bị trách tội!”. Sau khi Tiền Thị trở về nhà, cô chăm sóc cẩn thận 8 người trong gia đình họ Cố. Họ dần dần bình phục và sau đó tất cả đều sống sót.

***

Trong những giờ phút nguy hiểm cận kề, nhiều người sẵn sàng xả bỏ sinh mệnh của mình vì việc đại nghĩa. Đó là tấm lòng có thể cảm động đến cả quỷ Thần. Đại dịch hoành hành âu cũng là số kiếp mà Trời định ra để trừng phạt những tội lỗi của con người. Những kẻ đại ác, những người có tội sẽ phải chịu nghiệp quả tương ứng. Chỉ có người thiện lương, luôn mang chân tâm, lòng thiện và đức nhẫn nại cao thượng mới có thể bước ra ngoài lưới Trời trừng phạt. Thực đúng là:

‘Ở hiền thì sẽ gặp lành
Ai mà nhân đức Trời dành phúc cho’.

Yên Tử
Theo epochweekly

 

Nguồn gốc món ăn dược phẩm dâng Phật, Hoàng Đế cũng trân trọng

Cháo là món ăn dễ nấu, dinh dưỡng phong phú và dễ tiêu hóa, dù ngọt hay mặn đều được, thích hợp cho bữa sáng và ăn khuya. Đây là món ăn truyền thống bình dân của người Châu Á. Không những vậy đây còn là bài thuốc trị bệnh hiệu quả của Đông y.

Từ cổ xưa tới nay, mọi người đều biết đây là món ăn giàu dinh dưỡng và tốt nhất cho sức khỏe. Theo Phổ tế phương, Mặc dù cháo là thức ăn đơn giản được nấu từ gạo, nhưng lại như một nguồn sống, là chế độ ăn uống có công dụng trị bệnh khi dùng thuốc. Công thức nấu cháo cũng có những thay đổi sáng tạo vô tận, có thể bổ sung thêm các loại đậu, rau xanh, thịt, thậm chí các loại  quả… từ đó đạt được hiệu quả bổ dưỡng khác nhau.

Nguồn gốc của cháo

Ảnh: Shutterstock

Ngược dòng tìm hiểu ghi chép về nguồn gốc của món ăn bổ dưỡng này, có thể xuất hiện khoảng từ năm 2697 – 2597 TCN. Tương truyền, khi đó Hoàng Đế đã rất trân trọng dùng hạt ngũ cốc nấu thành cháo. Trong Thương Hàn Tạp Bệnh Luận của thánh y Trương Trọng Cảnh, công dụng trị liệu của cháo cũng được miêu tả rất tỉ mỉ. Nói đến cháo, đối với những người Phật Giáo là phải nhắc đến một chi tiết nhỏ nhưng vô cùng quan trọng vào thời kỳ bình minh của Phật Giáo.

Ngày 8/12 âm lịch hằng năm là lễ hội cháo Laba (còn được gọi là Ngày bồ đề). Đây là ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dưới cội bồ đề khai công khai ngộ. Tương truyền, khi Đức Phật nhập định tu hành dưới cội bồ đề 49 ngày, không ăn uống, từng có một tín đồ tên Sujata dùng trái cây và ngũ cốc nấu cháo dâng lên Phật Đà. Để kỷ niệm ngày Đức Phật khai ngộ, hằng năm vào ngày này, các ngôi chùa Phật giáo đều nấu cháo dâng Phật và phân phát cho khách thập phương. Có lẽ bát cháo đã giúp sức cho Ngài và nó đã trở thành món ăn quan trọng trong tăng đoàn, được xem như là một thứ dược phẩm và thường được Đức Phật nhắc đến trong kinh điển.

5 lợi ích của cháo

Ảnh: kknews.cc/ The Epoch Time

1. Cháo có thể điều chỉnh khẩu vị và kích thích thèm ăn

Cháo có hương vị ngon và lành, thanh đạm và dễ ăn, đặc biệt thích hợp cho những người chán ăn hoặc mệt mỏi.

2. Cháo có thể kiện Tỳ ích Vị, dưỡng âm và sinh tân

Ăn cháo có thể nuôi dưỡng Tỳ Vị, nhuận Vị khí, dưỡng âm sinh tân, nhu dưỡng xương cốt tứ chi. Cháo nhỏ mịn vị ngọt và dễ tiêu hóa, hỗ trợ mang lại đầy đủ dinh dưỡng và hồi phục thể lực cho cơ thể. Khi mệt mỏi hoặc già yếu, cháo là lựa chọn tốt nhất, giúp cơ thể nhanh chóng bổ sung năng lượng và tăng cường thể lực.

3. Cháo có thể thúc đẩy cơ thể đổ mồ hôi và giải độc

Cháo nóng có thể tiếp thêm sinh lực, làm ấm cơ thể, giúp toát mồ hôi và loại bỏ tà khí thâm nhập cơ thể ra bên ngoài. Thực tế, nhiều nghiên cứu cho thấy, ăn cháo để hỗ trợ giúp cơ thể đổ mồ hôi là một cách giải độc lành mạnh và hiệu quả, đặc biệt phù hợp với những người bị cảm lạnh.

4. Cháo có thể tăng cường hiệu quả trị liệu của thảo dược

Thánh y Trương Trọng Cảnh từng đề cập, sau khi uống thuốc, căn cứ vào tình trạng bệnh nhân mà ăn bổ sung cháo nóng hoặc nguội… để hỗ trợ tác dụng của thuốc. Ví dụ trong khi dùng Thập táo thang, bệnh nhân cần dùng cháo kê để bồi bổ. Nguyên nhân vì Thập táo thang dược lý rất mạnh, dễ tổn thương Vị khí; khi Vị khí tổn thương, những tạng phủ khác cũng theo đó mà ảnh hưởng, từ đó bất lợi cho quá trình hồi phục bệnh. Ăn cháo vào lúc này có thể hỗ trợ dưỡng Vị khí, giúp thuốc phát huy hiệu quả tốt hơn.

5. Cháo là món ăn đầu tiên nên cho vào thực đơn bữa sáng

Bởi vì nó có thể thúc đẩy tuần hoàn lưu thông năng lượng trong cơ thể. Sáng sớm sau khi tỉnh giấc, thân thể của chúng ta cũng dần dần tỉnh lại, một bát cháo ấm có thể giúp cung cấp đủ nhiệt lượng cho cơ thể, từ đó thúc đẩy khí Tỳ Vị trở nên ấm áp, và đưa tinh chất của ngũ cốc nuôi dưỡng toàn thân, thúc đẩy năng lượng cơ thể lưu thông tuần hoàn.

Cháo làm từ các loại ngũ cốc và nguyên liệu khác nhau có tác dụng chữa bệnh khác nhau. Bác sĩ Đông y Hồ Nãi Văn tới từ phòng khám Đông y Đồng Đức Đường, Thượng Hải, Đài Bắc chia sẻ, trong Bản thảo cương mục có ghi chép, cháo nấu từ các loại ngũ cốc có công dụng hỗ trợ trị chứng Tỳ Vị hư hàn, cháo nấu từ lúa mì có tác dụng hỗ trợ trị tiêu chảy. Cháo nấu từ gạo nếp, gạo cao lương, hạt kê có tác dụng lợi tiểu. Cháo nấu từ gạo tẻ, ngô, gạo giống nhật japonica… có tác dụng hỗ trợ loại bỏ phiền muộn. Có những loại khác, một số là cháo nấu từ ngũ cốc, các loại rau, các loại thịt ví dụ cháo đậu đỏ, cháo đậu xanh, cháo rau bina, cháo rau tỏi tây, cháo cần tây, cháo rau quỳ… đều có hiệu quả hỗ trợ trị bệnh khác nhau.

Mặc dù cháo tốt cho sức khỏe, nhưng nên ăn đúng cách. Đối với bệnh nhân bị đầy hơi, trào ngược dạ dày thực quản, ăn cháo có thể làm triệu chứng càng tồi tệ hơn. Ngoài ra, nếu ăn cháo để bồi bổ thân thể, nên căn cứ vào thể trạng thực tế để lựa chọn loại phù hợp, chẳng hạn hội chứng cảm hàn phù hợp với các loại cháo có tính ôn, hội chứng nhiệt thích hợp với các loại cháo lạnh…

Học cách nấu cháo dưỡng sinh đơn giản cho bữa sáng

(Ảnh: kknews.cc)

Thành phần:

Đậu xanh 50g, đậu lăng (có thể thay thế bằng đậu trắng hạt to) 50g, hạt sen 50g, lúa mạch 50g, Đại táo 30g, Kỷ tử 10g, (nguyên liệu này dùng cho 1 người chia ra ăn trong 5 ngày).

Hoàng kỳ 250g để nấu lấy nước.

Cách thực hiện:

Đun Hoàng kỳ trong 15 phút, rót nước đã đun ra bát, tiếp tục thay nước khác đun tiếp 15 phút để chắt lấy nước lần 2. Lấy nước dùng từ 2 lần đun trên để nấu cháo thay cho nước trắng thông thường.

Rửa sạch và ngâm các loại hạt trên và nấu chín trong vòng khoảng 40 phút. Đun nhỏ lửa cho đến khi các loại hạt chín mềm. Khi các thành phần trên đã chín thì cho quả Kỷ tử vào đun thêm 10 phút. Không nên nấu Kỷ tử lâu vì sẽ làm hỏng món ăn, mất tác dụng tốt nhất của nguyên liệu. Nấu chín và ăn khi cháo nóng ấm, mỗi ngày ăn 1 lần vào bữa sáng hoặc bữa phụ trong ngày.

Tác dụng:

Món cháo này có sự khác biệt so với các món cháo khác chính là nước nấu cháo có thành phần Hoàng kỳ.

  • Hoàng kỳ là 1 trong 5 dược liệu tốt nhất trong Đông y được các thầy thuốc vô cùng ưu ái. Dược liệu này không chỉ có tác dụng bổ khí rất rõ rệt mà còn nâng cao khả năng miễn dịch, sức đề kháng, giảm mệt mỏi, chống lão hóa. Không những thế, Y học hiện đại nghiên cứu cho thấy dược liệu này có chứa nhiều selen, có khả năng phòng chống ung thư hiệu quả.
  • Đậu xanh có tác dụng chữa nhiều bệnh quan trọng như giải độc, làm mát cơ thể, bổ sung dinh dưỡng. Trong khi đậu trắng lại giải nhiệt tốt, hạn chế các bệnh về dạ dày, chán ăn, tiêu chảy phân lỏng, tiết dịch âm đạo quá nhiều, nôn mửa, đau thắt ngực, đầy bụng.
  • Hạt sen là món quà quý từ thiên nhiên, có vị ngọt, bổ Tâm, Tỳ, Thận; tránh tiêu chảy, an thần, chữa mất ngủ, giảm tiêu chảy mãn tính, thải khí hư, tim đập nhanh…
  • Lúa mạch có tác dụng lợi tiểu, dễ tiêu hóa, cân bằng lá lách, giảm nhiệt, dễ hấp thụ vào cơ thể, giải tỏa mệt mỏi, chán ăn, bất kỳ ai cũng có thể ăn để tăng cường và bổ sung dinh dưỡng.
  • Đại táo vốn là một vị thuốc bổ trong Đông y, nuôi dưỡng các dây thần kinh, có vai trò lớn tác động tới Tỳ và Vị. Khi các bộ phận này suy nhược, thiếu máu, mệt mỏi, mất ngủ và các bệnh khác xuất hiện, Đại táo sẽ là vị “cứu tinh” tiện lợi.

Theo Đại Kỷ Nguyên tiếng Trung

 

 

Vì sao Đức Phật giảng: Tiền tài bất nghĩa là con rắn độc lớn?

Tại sao Phật Đà nhìn thấy vàng của ai đó đánh rơi trên mặt đất lại gọi là “rắn độc lớn”? 

Thời cổ đại có 2 người, một người thông qua thủ đoạn bất chính kiếm được rất nhiều tiền tài, còn một người tham vàng của người khác đánh rơi mà phất lên. Cả hai người đều tham tiền tài bất nghĩa. Kết quả người thứ nhất đột tử, người thứ 2 có được cuộc đời mới. Tại sao lại có kết cục khác nhau nhiều như thế này?

Tham của bất nghĩa, sai nha âm gian tính sổ xóa nợ

Kỷ Hiểu Lam, Đại học sỹ triều Thanh đã kể lại một câu chuyện trong “Duyệt vi thảo đường bút ký”. Quan nha huyện Hiến có viên thư lại nhỏ họ Vương. Vì ông ta am hiểu các điều lệnh pháp luật, giỏi viết cáo trạng, thường khiến rất nhiều vụ án đột nhiên xoay chuyển ngược lại, do đó được rất nhiều đương sự hối lộ hoặc tặng tiền của.

Nhưng kỳ lạ là, mỗi khi ông ta tích trữ được một khoản thì nhất định xảy ra sự cố khiến số tiền tích lũy này bị tiêu hao hết.

Miếu thành hoàng có một Đạo đồng, một hôm vào lúc nửa đêm thanh vắng, đang đi lại trong miếu bỗng nhìn thấy hai viên sai nha âm gian đang hạch toán sổ nợ. Một người nói: “Năm nay ông ta tích lũy được khá nhiều, nên dùng biện pháp gì để xóa nợ đây?”

Vừa nói, viên sai nha vừa cúi đầu trầm tư. Viên sai nha kia đáp: “Chỉ cần một Thúy Vân là đủ rồi, không cần phải phiền não như vậy, thêm mấy nạn nữa”.

Do ở trong miếu Thành Hoàng thường nhìn thấy quỷ nên Đạo đồng đã quá quen với việc như thế này, coi đó là chuyện thường, do đó cũng không sợ hãi. Chỉ có điều cậu không biết Thúy Vân là ai, cũng không biết họ đang tính toán xóa nợ cho ai.

Sau đó không lâu, có một kỹ nữ trẻ tên là Thúy Vân đến huyện. Vì cô ta có chút nhan sắc nên thư lại Vương vô cùng sủng ái cô ta. Vì kỹ nữ trẻ này mà ông ta đã hao tổn 8, 9 phần tiền của tích lũy. Sau lại vì ông ta mắc nhọt độc, để chữa trị nên cũng đã tiêu mất rất nhiều tiền. Đến khi bệnh khỏi thì toàn bộ tích lũy của ông ta hết sạch sành sanh.

Có người ước tính số tiền mà viên thư lại Vương đã kiếm chác được, có thể nói là một khoản kếch xù, khoảng 3, 4 vạn lạng bạc. Sau này ông Vương bỗng nhiên mắc bệnh điên, một đêm bỗng nhiên đột tử. Người nhà ông thậm chí còn không có tiền mua quan tài liệm.

Có lẽ ông Vương đến chết vẫn không biết rằng, tiền tài bất nghĩa mà ông dùng thủ đoạn bất chính kiếm được đều bị chúa tể cõi vô hình lấy đi hết.

(Ảnh minh họa: read01.com)

Nông phu lĩnh ngộ hiểu ra thế nào là rắn độc chân chính

Thời Ấn Độ cổ, một hôm Phật Đà và tôn giả A Nan đi bộ ở cánh đồng nước Xá Vệ. Bên con đường nhỏ ở giữa cánh đồng, họ bỗng thấy như có gì đó đang phát sáng lấp lánh. Phật Đà nói với tôn giả A Nan rằng: “Con xem, ở kia có rắn độc lớn”.

Tôn giả A Nan trả lời: “Thế tôn nói rất đúng, quả nhiên là rắn độc hung ác”.

Lúc đó có một nông phu đang cày ruộng, nghe những lời của Phật Đà và tôn giả A Nan, trong lòng thầm nghĩ: “Mình nên đến xem xem, người xuất gia trông thấy là rắn độc như thế nào”.

Người nông phu bước tới xem, thì ra là một đống vàng. Bác lập tức gói đống vàng lại lấy làm của mình.

Cuộc sống người nông phu vốn rất nghèo khổ, quanh năm cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Từ khi nhặt được vàng, bác đã phất lên sau một đêm, ăn thì sơn hào hải vị, mặc thì gấm vóc lụa là. Tất cả những thứ gì cần đều có đủ.

Tin tức người nông phu bỗng chốc giàu có được truyền đi khắp toàn quốc. Quốc vương nghi ngờ nguồn gốc tài sản của bác liền sai người đến bắt và tống giam vào ngục.

Tuy số vàng nhặt được đó đã tiêu dùng vung phí hết nhưng người nông phu vẫn không được tha, hơn nữa còn phải chịu xử trảm.

(Ảnh minh họa: punerispeaks.com)

Người nông phu nhớ lại việc tham tiền của trước đây, bất giác hối hận vô cùng. Trong ngục tù, bác cứ nói đi nói lại lẩm bẩm một mình: “Thế tôn nói là rắn độc lớn, tôn giả A Nan nói là rắn độc lớn”.

Ngục tốt đem chuyện này bẩm báo với quốc vương. Quốc vương cho gọi người nông phu đến và hỏi: “Tại sao ngươi nói: ‘Thế tôn nói là rắn độc lớn, tôn giả A Nan nói là rắn độc lớn’?”

Người nông phu trả lời: “Hôm đó thảo dân đang cày trên cánh đồng, nghe thấy Phật Đà và tôn giả A Nan nói rắn độc, rắn ác độc. Hôm nay thảo dân cuối cùng cũng đã minh bạch ra cái gì là rắn độc thực sự”.

Người nông phu bị lòng tham của mình che mất tâm trí, bị tiền tài mê hoặc mụ mẫm đầu óc. Tham tiền tài bất nghĩa, để mình phóng túng vung phí hưởng lạc. Giờ đây cuối cùng bác đã minh bạch, tiền tài bất nghĩa quả thực như rắn độc. Trong khi lâm nạn, bác bỗng nảy sinh lòng sùng tín đối với Phật Đà, đồng thời phát tâm hối lỗi.

Quốc vương thành tín Phật Pháp nghe xong câu trả lời của người nông phu, biết bác đã lĩnh ngộ được lời của Phật Đà, thế là tha tội cho bác.

Trong đại nạn lao tù, người nông phu tỉnh ngộ liền xuất hiện bước ngoặt. Trái với viên thư lại họ Vương bị đột tử, người nông phu tự nhiên có được vận may thay đổi cuộc đời. Đúng như câu nói trong “Tả truyện”: “Nhân thùy vô quá. Quá nhi năng cải, thiện mạc đại yên”, tức là con người ai mà không có lỗi lầm, có lỗi mà có thể sửa thì chẳng gì tốt đẹp bằng.

Kiến Thiện

 

Chiếc túi vải theo Phật Di Lặc đi lại khắp thế gian nhắc nhở ta điều gì?

Trong thời loạn thế, truyền kỳ về hòa thượng Bố Đại ung dung phóng khoáng, vui cười phơi phới, tay cầm túi vải vân du kết thiện duyên, giáo hóa thế gian, đã để lại ngụ ý sâu xa.

Khi triều Đại Đường hạ tấm màn hoa lệ xuống, thời Ngũ Đại Thập Quốc bắt đầu cùng nhau lên diễn màn kịch lớn loạn thế phân tranh. Trong bối cảnh ấy, một vị Bố Đại hòa thượng ung dung phóng khoáng, thoát tục vui cười trong cõi trần ai với tấm lòng rộng lớn nhẫn được những việc khó nhẫn nhất đã trở thành một nhân vật truyền kỳ đương thời.

Vân du kết thiện duyên, giáo hóa khắp thiên hạ

Bố Đại hòa thượng cũng được gọi là Trường Đinh Tử Bố Đại thiền sư. Sự ra đời của ông cũng nhuốm màu huyền thoại. Tương truyền vào những năm cuối đời Đường, trên suối Long Khê ở Phụng Hóa, Minh Châu có một bó củi trôi xuống, trên bó củi có một đứa trẻ. Ông Trương Trọng Thiên ở thôn Trường Đinh trông thấy đứa bé này chân tay mập mạp tròn trịa lại luôn nhoẻn miệng cười ngây thơ bèn ôm lấy đứa bé. Lúc này ông mới phát hiện ra bé được lót bởi một chiếc bao vải xanh. Trương Trọng Thiên bế đứa bé về nhà nuôi, đặt tên là Khiết Thử. Vì đứa bé lớn lên ở thôn Trường Đinh nên về sau có tên hiệu là Trường Đinh Tử.

Sau khi Khiết Thử lớn lên thì đến một ngôi chùa xuống tóc xuất gia. Ông dùng một cây thiền trượng, trên có buộc một cái túi vải (bố đại), đơn thân một mình đi vân du khắp thiên hạ. Ông gặp thứ gì thì ăn thứ ấy, hễ những gì ăn được ông đều bỏ vào trong túi vải, dó đó mọi người gọi ông là Bố Đại hòa thượng, nghĩa là ‘hòa thượng Túi Vải’.

Bức tranh “Bố Đại La Hán” do Minh Trương Hồng vẽ, hiện đang ở Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc, Đài Loan. (Ảnh: epochtimes.com)

Tương truyền, mỗi khi ông khất thực thì xung quanh luôn có 18 đứa trẻ đi theo. Mọi người đều không biết những đứa trẻ từ nơi nào đến, đuổi cũng không đi. Mùa hè nóng nực, Bố Đại hòa thượng tắm gội dưới suối, những đứa trẻ này vui đùa với ông. Đương thời có Lục Sinh giỏi vẽ đã vẽ chân dung Bố Đại hòa thượng trên bức tường một ngôi chùa.

Ông đi lại trong thế gian, giáo hóa rộng rãi. Khi mệt thì ông đến đâu liền tìm một chỗ ở đó ngủ nghỉ ngơi. Ông có một bài kệ rằng:

Một bát cơm nghìn nhà,
Thân cô du vạn lý.
Mắt xanh nhìn người ít,
Hỏi đường mây trắng xa.

Nguyên văn:

Nhất bát thiên gia phạn,
Cô thân vạn lý du.
Thanh mục đổ nhân thiểu,
Vấn lộ bạch vân đầu.

Mấy câu này chính là miêu tả chân thực cảnh ông đi vân du khắp thiên hạ, kết thiện duyên rộng khắp.

Có một vị cư sỹ họ Trần hỏi ông: “Làm sao để không rơi vào vòng xoáy nghị luận thị phi của người khác?”.

Bố Đại hòa thượng liền hát một bài kệ “Nhẫn nhục kệ” cho vị cư sỹ rằng:

Thị phi yêu ghét thế gian nhiều,
Suy ngẫm mới hay khó xoay chiều.
Mở rộng tấm lòng thường nhẫn nhục,
Buông bỏ u uất ắt sẽ tiêu.

Gặp người tri kỷ nên theo phận,
Nếu gặp oan gia cũng thuận hòa.
Lòng này ví chẳng còn vướng ngại,
Tự nhiên chứng được Lục Ba La.

Nguyên văn:

Thị phi tăng ái thế thiên đa,
Tử tế tư lượng nại ngã hà.
Khoan khước đỗ bì thường nhẫn nhục,
Phóng khai ương nhật ám tiêu ma.

Nhược phùng tri kỷ tu y phận,
Túng ngộ oan gia dã cộng hòa.
Yếu sử thử tâm vô quải ngại,
Tự nhiên chứng đắc lục ba la

Đại ý là:

Trên thế gian này thì thị phi yêu ghét quả là quá nhiều, nhưng nếu xem xét kỹ lưỡng thì thấy có thể làm gì được đâu?

Nếu có thể mở rộng tấm lòng thì có thể nhẫn chịu được khuất nhục, nếu có thể mở rộng tấm lòng, buông bỏ dục vọng thì những tối tăm u ám sẽ tiêu tan.

Cho dù là đối với người tri kỷ hay đối với oan gia thì cũng cần chung sống hòa thuận, trong tâm không bị tổn thương hay phiền não với yêu và hận thì thân tâm tự nhiên sẽ điềm đạm tự tại, sẽ đắc được Lục Độ (tức 6 phương pháp để đi đến giải thoát gồm: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí huệ).

Bức tranh “Bố Đại hòa thượng” do một họa sĩ ẩn danh vẽ năm 1765. (Ảnh: epochtimes.com)

Tuy Bố Đại hòa thượng thường độc hành, nhưng những người có tầm mắt trí tuệ đều vô cùng cung kính ông. Một hôm có người mời Bố Đại hòa thượng dùng bữa chay xong, lại khẩn khoản mời ông lưu lại để làm tròn nghĩa cung kính của đệ tử. Sáng sớm hôm sau, Bố Đại hòa thượng liền viết trên cổng nhà người này một bài kệ:

Ta có một thân Phật,
Có ai tỏ tường đâu.
Chẳng vẽ cũng chẳng tô,
Không chạm cũng không khắc.

Chẳng có chút bùn đất,
Không phải màu thể sắc.
Thợ vẽ, vẽ không xong,
Kẻ trộm, trộm chẳng mất.

Thể tướng vốn tự nhiên,
Thanh tịnh trong vằng vặc.
Tuy là có một thân,
Phân thân trăm ngàn ức.

Hé lộ Thiên cơ

Ngày 3 tháng 3 năm Trinh Nguyên thứ 2 đời Hậu Lương (tức năm 916), trước khi viên tịch, Bố Đại hòa thượng ngồi ngay ngắn trên một tảng đá hành lang phía Đông chùa Nhạc Lâm. Ông thuyết một bài kệ rằng:

Di Lặc chân Di Lặc,
Phân thân trăm ngàn ức.
Luôn ở trước mọi người,
Mà mọi người chẳng biết.

Nguyên văn:

Di Lặc chân Di Lặc,
Phân thân thiên vạn ức.
Thời thời thị thời nhân,
Thời nhân tự bất thức.

Thuyết nói xong, ông an nhiên viên tịch.

Lúc này mọi người mới biết, thì ra Bố Đại hòa thượng là hóa thân của Phật Di Lặc. Vì vậy người dân vùng Chiết Giang bèn lấy hình tượng khi ngài trụ thế, mời họa sỹ vẽ chân dung để thường xuyên thắp hương lễ bái.

(Theo “Tống cao tăng truyện” – Quyển 21”)

Bức tượng giống Bố Đại hòa thượng tại hang động Phi lai phong ở chùa Linh Ẩn. (Ảnh: Mr. Tickle/ Wikipedia)

***

Một truyền kỳ về hòa thượng Bố Đại diễn dịch thời loạn thế đã để lại ngụ ý sâu xa. Chiếc túi vải theo Phật Di Lặc đi lại khắp thế gian dường như đang nhắc nhở mọi người rằng, hãy đem hết phiền não thế gian bỏ vào trong túi, buông bỏ hết thị phi ân oán trong tâm thì sẽ đắc được phúc đức bất tận.

Bố Đại hòa thượng đã từng nói với người nông phu rằng:

Tay nắm mầm xanh trồng ruộng phúc,
Cúi đầu liền thấy trời dưới chân.

Nguyên văn:

Thủ niết thanh miêu chủng phúc điền,
Đê đầu tiện kiến thủy trung thiên.

Ngài đã dùng ngôn ngữ cực kỳ nông cạn nói với người thế gian rằng, người vui thí xả hành thiện tức là không ngừng cày cấy ruộng phúc của mình. Khi biết cúi đầu xuống, nhẫn được tức khí oán hận trong tâm thì chính trong khoảnh khắc cúi đầu đó sẽ nhìn thấy được bầu trời mênh mông chiếu rọi trong nước. Thì ra bầu trời cao không thể với tới kia lại chính là đang ở trong con mắt chính mình. Do đó Bố Đại hòa thượng nói: “Lùi chính là tiến” (thoái hậu nguyên lai thị hướng tiền).

***

Có lẽ câu chuyện Bố Đại hòa thượng nên kết thúc ở đây. Tuy nhiên trong dòng sông dài của thời gian, bất ngờ nổi lên hàng ngàn con sóng lăn tăn, hàng ngàn ánh nắng lấp lánh, những ánh sáng rực rỡ xuyên qua thời gian vẫn lấp lánh lung linh.

Năm Nguyên Phù thứ nhất đời Bắc Tống (năm 1098), Tống Triết Tông phong Hòa Thượng bố đại làm “Định Ứng Đại Sư”. Năm Sùng Ninh thứ 3 (năm 1104), trụ trì chùa Nhạc Lâm quyên góp xây Các, làm tượng thờ Phật Di Lặc trong chùa. Tống Huy Thông ban tên cho Các là “Sùng Ninh”. Trên ngọn núi Phi Lai Phong đối diện với chùa Linh Ẩn là trên 300 bức tượng đá tạc vào trong vách đá từ đời Ngũ Đại đến nay. Một bức tượng lớn nhất trong đó chính là tượng Phật Di Lặc lấy nguyên mẫu Bố Đại hòa thượng.

Có một bức tranh cuối đời Minh đầu đời Thanh tên là “Thập tử náo Di Lặc đồ”. Phật Di Lặc trong tranh này thân hình đầy đặn béo tốt, phanh ngực hở bụng, miệng cười lớn. Tay phải ngài cầm tràng hạt Phật Châu, ngồi dựa vào cái túi vải lớn. Chung quanh ngài là 10 đứa trẻ mỗi đứa thần thái khác nhau, rất vui vẻ tinh nghịch đùa vui. Lũ trẻ đứa trèo lên vai Phật Di Lặc, đứa thì kéo tai ngài, đứa thì kéo đòi thiền trượng của ngài, đứa thì kéo đòi tràng hạt Phật Châu. Lũ trẻ vui đùa và Phật Di Lặc từ bi tường hòa khiến bức tranh sống động như thật.

Phật Di Lặc độ lượng bao dung, nhẫn những chuyện khó nhẫn trong thế gian, tan hết bao nhiêu ưu sầu nơi nhân thế. Ngài vui cười phơi phới, tiêu tan hết bao nhiêu thị phi ân oán cổ kim trong thiên hạ. Phật Di Lặc từ bi, tấm lòng rộng lớn bao dung cả đất trời, bạn trông thấy phải chăng cũng tươi cười rạng rỡ?

Theo Hoàng Phủ Dung – Đại Kỷ Nguyên tiếng Trung
Nhất Tâm biên dịch

 

 

Thần Phật bảo hộ cho ‘người tín Thần Phật’ như thế nào?

Thần Phật là từ bi cứu độ con người. Các Đại Giác Giả xuống thế gian độ nhân đều khuyên con người tu đức, hành thiện và tiết chế dục vọng. Vậy những ai sẽ được Thần Phật bảo hộ?

Sự biến dị của văn hóa tín Thần Phật

Trong văn hóa truyền thống thì có tín ngưỡng Thần Phật, kính Trời thờ Thần, nhân quả báo ứng… Tín ngưỡng Thần Phật đã theo cùng dân tộc truyền thừa từ đời này sang đời khác suốt mấy ngàn năm nay không hề đứt đoạn.

Tuy nhiên mấy chục năm gần đây ảnh hưởng của Thuyết tiến hóa và Thuyết vô Thần khiến truyền thống ngàn đời này bỗng chốc trở thành mê tín phong kiến, các tín ngưỡng truyền thống bị phá hoại nặng nề.

Khi không còn tín ngưỡng, không biết có Thần Phật tồn tại, con người không còn biết e dè sợ sệt điều gì, họ dám “đấu với Trời, đấu với Đất, đấu với người”. Vậy nên tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, những cánh rừng nguyên sinh bị tàn phá, những dòng sông trong vắt bị ô nhiễm, bầu không khí trong lành đã bị thay thế bằng khói bụi. Kết quả là thiên tai, dịch bệnh, sâu bệnh hoành hành, con người đang tự đầu độc môi trường sống của chính mình.

Khổng Tử nói: “Quân tử có ba cái sợ: Sợ mệnh Trời, sợ đại nhân và sợ lời của Thánh nhân. Tiểu nhân không biết mệnh Trời nên không sợ, bỡn cợt đại nhân, khinh nhờn lời của Thánh nhân”.

Như vậy chẳng phải giáo dục hiện đại truyền bá thuyết vô Thần và triết học đấu tranh khiến con người ngày nay “không biết mệnh Trời nên không sợ, bỡn cợt đại nhân, khinh nhờn lời của Thánh nhân”, chẳng phải đào tạo ra tiểu nhân đó sao?

Văn hóa truyền thống giáo dục con người tu thân, tu đức, tu dưỡng phẩm đức tốt đẹp, nhân ái. Sách ‘Đại học’ viết: “Đạo học làm việc lớn cho xã hội là ở chỗ làm sáng tỏ cái đức sáng của mình, thương yêu người dân, đạt tới chỗ chí thiện”. Sách ‘Trung Dung’ cũng nói: “Đạo của học vấn không gì khác ngoài tìm lại cái tâm đã bị buông thả, đã bị mất đi”, có nghĩa là tìm lại cái bản tính thiện ban sơ của con người.

(Ảnh minh họa: dieunhataman)

Nhưng khi không đào tạo con người thành bậc quân tử, mà lại đào tạo kẻ tiểu nhân thì đúng là mối nguy hại cho xã hội và quốc gia. Bởi vì “Quân tử vì nghĩa, tiểu nhân vì lợi”, “Quân tử chỉ biết đến đức hạnh, tiểu nhân chỉ biết đến đất đai”, thế nên ngày nay con người tranh giành nhau, đấu đá nhau, lừa dối ức hiếp nhau, thậm chí sát hại nhau chỉ để ‘tranh quyền đoạt lợi’. Vì lợi mà người ta sẵn sàng dối trên lừa dưới, dối Trời lừa dân, lừa thầy phản bạn, thậm chí bán rẻ thân xác và linh hồn của chính mình, trở thành nô lệ cho đồng tiền, bị đồng tiền sai khiến.

Tuy nhiên, “Trên đầu ba thước có Thần linh” và “Thiện ác hữu báo”, nhiều người hành ác đã phải chịu tai họa, thậm chí vạ lây đến người nhà. Đứng trước tai họa giáng xuống, đứng trước cơn cuồng nộ của thiên nhiên, con người lúc đó mới thấy mình quá ư bé nhỏ. Trong sâu thẳm tâm hồn, con người vẫn mơ hồ nảy sinh ra tâm sợ hãi, kính ngưỡng. Thế là, dù theo ‘duy vật’, ‘vô Thần’ thì họ vẫn cứ ‘có thờ có thiêng, có kiêng có lành’. Họ bèn sắm lễ to lễ nhỏ, cầu thầy gần thầy xa, lễ cô nọ cậu kia, đến đền này miếu nọ. Họ đi khắp nơi cúng bái, những mong Trời Đất, Thần Phật bảo hộ được bình an, phát tài, rồi họ sẽ ‘hoàn lễ’.

Cũng có người trước những vụ ‘làm ăn lớn’ là dâng lễ Thần Phật, cầu xin ‘làm ăn trót lọt’. Họ dùng những thủ đoạn trốn tránh, trái pháp luật, trái đạo đức, câu kết nhau kiếm tiền, làm giàu. Bản thân họ cũng biết là trái đạo đức, trái pháp luật, nhưng tiền tài làm mờ mắt, và với niềm tin méo mó cho rằng ‘dương sao âm vậy”, ‘người sao Thần vậy’, nên họ đã ‘dùng bụng tiểu nhân đo lòng Thần Phật’. Cõi nhân gian họ đã quen dùng tiền tài, gái đẹp để quan hệ, lo lót, để câu kết kiếm chác, nên họ nghĩ các cõi Thần Phật quỷ Thần đều như vậy. Vậy nên mới lan tràn những tệ nạn cúng sao giải hạn, cúng vong, cầu tài cầu lộc, cầu bình an, cầu sinh con trai, cầu đỗ đạt, cầu quan lộ hanh thông, cầu thăng quan tiến chức, cầu vợ đẹp con khôn, cầu xin tất cả những gì họ mong muốn nhằm thỏa mãn lòng tham vô đáy của mình.

Thần Phật bảo hộ người tín Thần Phật như thế nào?

Nhiều người sắm đủ mâm to lễ đầy, hương lớn hương nhỏ, vàng mã ngựa xe, nhà lầu xe hơi, rồi mời thầy chùa, thầy cúng, đồng cô bóng cậu đến làm lễ giúp. Họ cung kính cầu khấn, cúi đầu bái lạy, quỳ mọp thành kính. Thử hỏi Thần Phật có bảo hộ có giúp những người ‘thành kính’ này hay không?

Giả sử Thần Phật giúp họ đạt được nguyện vọng, thế thì các mánh lới làm ăn của họ trót lọt, phát tài, họ có bộn tiền. Họ sử dụng những đồng tiền đó như thế nào? Có lẽ họ sẽ sắm một cái lễ lớn để ‘hoàn lễ’, sau đó họ sẽ tiêu tiền vào các thú vui thế gian, từ bài bạc, ăn nhậu, ma túy, thuốc lắc, từ vũ trường cho đến các sòng bạc, rồi tụ tập bạn bè ăn chơi trác táng, thậm chí có người say rượu say thuốc tông xe chết người. Số tiền còn lại thì mua sắm xe, nhà đất, gửi ngân hàng, đưa con cái ra nước ngoài…

Thần Phật là từ bi cứu độ con người. Các Đại Giác Giả xuống thế gian độ nhân, đều khuyên con người tu đức, hành thiện và tiết chế dục vọng. Thử hỏi nào có Thần nào Phật nào giúp con người thỏa mãn dục vọng cá nhân làm điều xấu điều ác, điều xằng bậy?

Lão Tử giảng Đạo, bảo con người tu Đạo, phản bổn quy chân, trở về bản nguyên của sinh mệnh, ông nói: “Tu Đạo là hàng ngày giảm bớt tư dục chấp trước, đã giảm rồi lại giảm tiếp, giảm cho đến khi không còn chấp trước, đạt đến vô vi thanh tịnh”.

Chúa Jesus nói: “Con tin ta thì sẽ trở về được Thiên quốc”, nghĩa là tin theo, nghe theo, làm theo những lời dạy của Chúa thì đạt tiêu chuẩn trở về Thiên quốc.

Phật Thích Ca Mâu Ni truyền Pháp là “Giới – Định – Huệ”. Giới cấm, từ bỏ hết thảy ham dục vui thú chốn nhân gian, tu tâm tính, thiền định, cứ trường kỳ như vậy đến khi hết ham dục chấp trước thì trí huệ nảy sinh, khai ngộ khai huệ, đến được bờ kia của niết bàn.

(Ảnh minh họa: gotoknow.org)

Các Đại Giác Giả xuống thế gian độ nhân đều lấy thân xác phàm. Các Ngài đích thân tu luyện đến khi khai ngộ rồi giảng Đạo thuyết Pháp độ nhân, để thế nhân đi theo con đường đích thân các Ngài đã làm mẫu, đã đi qua. Đó mới là con đường ‘phản bổn quy chân’, con đường trở về chân chính của sinh mệnh. Do nhắm vào đối tượng là những con người ở thời kỳ, địa phương khác nhau, có đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ khác nhau nên hình thức diễn đạt, câu từ, lời nói của các Ngài cũng khác nhau, tuy nhiên đều có chung một ý là khuyên con người: Buông bỏ ham dục, chấp trước, tu luyện trở về với bản nguyên của sinh mệnh. Bước đi đầu tiên của quá trình tu luyện gian khổ lâu dài này chính là tiết chế dục vọng, tu đức hành thiện.

Vậy nên người nào thực hành theo lời dạy của các Ngài thì lẽ đương nhiên Thần Phật sẽ phù hộ giúp đỡ. Thần Phật nhìn nhân tâm chứ không nhìn hình thức. Còn những người làm trái lời các Ngài thì lẽ đương nhiên là không được bảo hộ. Thần Phật cũng từ bi chẳng trách phạt họ, nhưng luật nhân quả lại chẳng buông tha. Hãy xem các quan tham, những người buôn ma túy, buôn lậu, những ông trùm xã hội đen, những người chơi bời nghiện ngập, cả những người tự xưng ‘thầy nọ thầy kia’ giả Thần giả quỷ để lừa đảo kiếm tiền, qua một thời gian lâu thì họ như thế nào? Chỉ cần quan sát trong thời gian đủ dài thì chúng ta cũng tự có câu trả lời rồi.

Bạch Nhật

 

 

Rũ bụi trần ta nhẹ bước chân tu

Muốn ngủ yên- cho những vần thơ nghỉ
Bởi hoan ca đâu giữ nổi chân người
Che sầu thương dưới lớp vỏ: nụ cười
Tim héo úa giữa lòng đời ai biết

Nước mắt rửa tháng năm đến tận kiệt
Trôi hết rồi, cả sỏi đá cũng trôi
Tình chẳng vẹn, lỡ nát mảnh ly bôi
Vầng trăng lạnh nghìn thu mang sầu muộn.

Muốn ngủ yên- cho những vần thơ nghỉ. Bởi hoan ca đâu giữ nổi chân người. (Ảnh: Pinterest.com)

Người đổi thay như thác ghềnh lũ cuộn
Sót hoang tàn đổ nát giấc tri hoa
Âu đành vậy để năm tháng đi qua..
Một ngày tỉnh, biết kiếp người duyên nợ

Tận cùng khổ đau, tới ngày giác ngộ
Rũ bụi trần, ta nhẹ bước chân tu…

Tận cùng khổ đau, tới ngày giác ngộ. Rũ bụi trần, ta nhẹ bước chân tu…(Ảnh: Pinterest.com)

Thanh Bình

 

7 thứ khẩu nghiệp và 4 loại người cần tránh, đừng để rước hoạ vào thân

Tu được cái miệng là tu hơn nửa đời người, trong cuộc sống có nhiều người mắc phải khẩu nghiệp, kết giao với những người không nên kết giao để rồi mang hoạ vào thân.

Trong Đạo Phật, “khẩu nghiệp” là loại nghiệp nặng nhất của chúng sinh. Tu được cái miệng là tu hơn nửa đời người, rất nhiều người trong cuộc sống hàng ngày vẫn đang vô thức mắc phải “khẩu nghiệp” mà không hề hay. Muốn tạo phúc trừ nghiệp, hãy bắt đầu loại bỏ những loại khẩu nghiệp sau đây:

1. Chuyện không nói có, chuyện có nói không

Phàm ở đời, những người đặt điều dựng chuyện, nói lời gian dối thường được xem là hiện thân của ma quỷ, khi chết sẽ phải xuống địa ngục. Những người này đồng thời cũng là căn nguyên của mâu thuẫn, thị phi.

Bởi vậy mới có câu: “sự thông minh sáng suốt nhất đó chính là sự thật”. Dù bạn có cho rằng lời nói dối vô thưởng vô phạt của mình cũng không hề làm hại đến ai thì sự thật vẫn chỉ có một, chỉ có bạn mới hiểu được rằng bản thân mình vừa nói/làm một điều sai trái với lẽ tự nhiên.

2. Nói lời hung ác

Lời ác khẩu xuất phát từ những tâm hồn bị tổn thương, thiếu thốn tình cảm. Bất cứ lời nào nói ra dù là để tự vệ hay tấn công mà làm tổn hại đến danh dự, nhân cách của người khác cũng đồng nghĩa với việc bạn đã tự tích thêm nghiệp quả cho mình. Vì vậy, hãy cẩn trọng hơn nữa trong lời ăn tiếng nói hàng ngày bởi “giết chết một con người bằng đao kiếm cũng không đáng sợ bằng việc giết chết một tâm hồn bằng lời nói”.

Những người nói lời ác khẩu là những người có khiếm khuyết về tâm hồn, hãy thông cảm với họ

3. Nói lời đôi chiều

Một người không có chính kiến, ăn nói hai lời, gió chiều nào che chiều ấy sẽ là kẻ gây mâu thuẫn trong nội bộ, chỉ biết vun vén hưởng lợi riêng về mình. Nếu gặp những loại người này bạn nên tránh xa.

Đồng thời, chúng ta cũng cần tự rèn luyện ý chí và khả năng quyết đoán của bản thân. Nếu đã lựa chọn phải biết chịu trách nhiệm cho những lựa chọn ấy, đừng để tâm lý dao động kẻo sẽ rước họa vào thân.

4. Nói lời thêu dệt

Cổ nhân có câu “một nửa sự thật không phải là sự thật”. Bạn cho rằng mình vẫn nói đúng những gì đã có và chỉ “thêm thắt” một vài tình huống hài hước hay ly kỳ hơn để phiếm chuyện thì cũng đừng nên làm vậy.

Lời nói ra chỉ nên vừa đủ nghe, vừa đủ hiểu và vừa đủ chân thành, chỉ cần truyền đến người sau câu chuyện sẽ trở thành thứ khác. “Tam sao thất bản” cũng là một trong những lỗi lầm mà con người thường vô tình mắc phải.

Ăn uống linh đình và lãng phí là một trong những khẩu nghiệp thường mắc phải mà ít ai ngờ tới

6. Phê bình, khen chê

Từ nhỏ đến lớn, chúng ta luôn sống trong môi trường bị đánh giá và đánh giá người khác. Trẻ con đi học thì bị đánh giá bằng điểm số, người lớn đi làm bị đánh giá bằng năng lực, mức lương, địa vị… Vô hình chung những điều này sẽ sinh ra tâm lý so sánh, đố kỵ trong lòng, lâu dần sẽ tích tụ lại thành thói tham lam, tranh đoạt, khởi sinh cái ác mà chúng ta không hay. Muốn tránh được điều này, tốt nhất nên có tâm quan sát học hỏi và tự đúc rút kinh nghiệm cho chính bản thân mình thay vì can thiệp vào những cuộc bình luận vô nghĩa.

7. Tứ chúng

“Tứ chúng” hay còn được hiểu đơn giản là việc đi rêu rao lỗi lầm của kẻ khác. Điều này là hệ quả của việc phê bình, khen chê được nêu trên. Bởi vậy khi nói chuyện với một nhóm người, cách tốt nhất là hãy chỉ nói những điều liên quan đến những người đang có mặt ngay trong cuộc nói chuyện và tránh nói đến người vắng mặt. Quy luật tất yếu: “có khen ắt có chê”, lời nói đôi khi sẽ đi trước cả suy nghĩ khiến ta khó tránh được lời không hay, chỉ trích mà quên đi rằng đó cũng là một dạng khẩu nghiệp cần tránh.

Hãy thận trọng hơn trong lời nói của mình

Do vậy kinh Phật cũng dạy, trong sinh hoạt hằng ngày có 4 hạng người chúng ta nên tránh:

1. Hay nói lỗi kẻ khác

2. Hay nói chuyện mê tín, tà kiến

3. Miệng tốt, bụng xấu (khẩu Phật, tâm xà)

4. Làm ít kể nhiều.

Hãy ghi nhớ rằng, của cải làm ra bao nhiêu cũng hết nhưng những lời tâm ý sẽ trường tồn đời này qua đời khác, giá trị bạn trao đi cũng chính là những gì bạn nhận lại. Người nói lời cao đẹp, yêu thương thì trong tâm luôn cảm thấy thanh thản, bình an và ngược lại.

                                                                                   * Theo Trí Thức Trẻ/soha

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vân thủy thiền tâm: Khúc tình ca trong bản nhạc Thiền, nghe để thấy Đạo

Có một bản nhạc rất đặc biệt, nghe biết bao nhiêu lần vẫn thấy vẹn nguyên như thuở ban đầu. Bản nhạc ấy, nếu chỉ nghe tiếng đàn sẽ thấy mềm mại như nước chảy, lãng đãng như mây trôi, khiến ta bất giác thả lòng theo mây nước, tâm không nhuốm bụi trần, tự tại mà phiêu diêu. Còn nếu chỉ đọc ca từ, lại thấy vấn vương một mối tình sâu kín, chỉ có thể giãi bày cùng gió trăng.

Bản nhạc ấy có một cái tên mà mới chỉ nghe qua đã thấy cảm giác rất thanh tịnh: “Vân thủy thiền tâm”, mây nước lòng thiền. Một điều gì đó rất trang nhã, rất tinh khiết, rất thuần tịnh: Có nét tự tại của nước, lại có nét phiêu du của mây, hướng lòng ta vào thiên nhiên, thân và tâm hòa quyện, cảm giác thật tĩnh tại an nhiên.

Ấy là thiền.

Vậy mà, trên nền nhạc thiền lại là khúc tình ca, và trong tình ca ta lại thấy một tấm lòng trinh nguyên, thanh bạch.

Tôi tự hỏi: Vì sao hai thứ cảm xúc rất khác biệt ấy lại có thể hòa hợp trong cùng một bản đàn?

Một bên nhẹ như mây trên trời, một bên nặng như nước dưới khe. Một bên phiêu du ngày tháng, một bên lại sâu nghĩa nặng tình. Một bên là cảnh giới siêu phàm thoát tục, siêu xuất chín tầng không, một bên là cảnh giới của kẻ phàm nhân, vương vấn nơi hồng trần cuồn cuộn. Một bên là thiền, rất tịnh, rất thanh, một bên là tình, nồng nàn, thắm đượm. Cứ ngỡ tình yêu nam nữ chỉ là thứ trần tục, nhưng xem ra trong bản nhạc này, cái tình ấy đã thăng hoa lên một cảnh giới khác, tạm gọi là ‘cái tình thuần khiết’.

Chuyện kể rằng, vào thời Bắc Tống, ở nơi miền sơn cước xa xôi có một thiếu nữ rất xinh đẹp và tài hoa. Một ngày kia, có vị đạo sĩ phương xa vân du qua đó, chàng ghé chân vào ngôi nhà nhỏ của người thiếu nữ xin được tá túc vài ngày. Vị đạo sĩ và người thiếu nữ dường như có tâm linh giao cảm, nên vừa gặp đã thấy thân quen. Ngày ngày họ trau dồi cầm nghệ, từ tri âm mà trở thành tri kỷ. Lâu dần, trong vùng có tiếng xầm xì to nhỏ, lời lời gièm pha, người người đàm tiếu, khiến chàng không còn cách nào khác đành phải từ biệt để tiếp tục lên đường vân du. Nàng đưa tiễn hơn mười dặm dương liễu, còn chàng thì gảy một khúc nhạc cáo từ.

Khúc nhạc ấy chính là “Vân thủy thiền tâm”.

Tiếng đàn vang lên, khi thì mênh mang như nước chảy, lúc lại phiêu đãng như mây trôi, thay người ra đi bày tỏ tấm lòng sáng trong vời vợi. Trên nền nhạc du dương thánh thót, người đạo sĩ cất lên tiếng hát:

“Núi vắng chim véo von kìa, người và mây trắng đều đi ngủ hết
Suối trong róc rách tẩy sạch tâm ta, bầy cá nô đùa dưới đầm sâu.
Gió thổi núi rừng kìa, trăng chiếu bóng hoa lay.
Hồng trần như mộng hợp lại tan, đa tình lắm đau thương.

Ngắm bầu không u minh kìa, ta và trăng nuối tiếc nhau
Gảy một khúc đàn tặng trăng, khó tỏ hết nỗi lòng nhung nhớ.
Lòng ta như mây khói, múa xiêm y giữa trời
Người xa ngàn dặm, hồn vấn vương, trong cõi mộng.

Tự hứa với hồng nhan
Giấc mộng Nam Kha khó tỉnh, núi trống rừng già.
Nghe tiếng suối trong réo rắt như vô tình, soi tỏ mình ta tịch mịch giữa đêm thâu.”

Một bản tình ca trên nền nhạc thiền, mới nghe nói đến liền cảm thấy thật mâu thuẫn, nhưng kỳ thực lại ẩn chứa đạo lý bên trong.

Bản nhạc ấy có hai cảnh giới: Bản nhạc không lời là cảnh giới của Đạo (thiền tâm), còn ca khúc lại thuộc về cảnh giới của Trần (cái tình nơi nhân thế).

Trước hết hãy nói về bản nhạc không lời. Nếu chỉ lắng nghe tiếng đàn, sẽ thấy thân tâm đều hòa tan vào một thứ, gọi là “vân thủy thiền tâm”.

Thủy là gì? Chính là nước, được Lão Tử ví với Đạo: “Đại Đạo tự thủy”. Trong thiên hạ không có gì mềm mại như nước, nước yếu mềm, không mạnh mẽ, nhưng lại có thể làm đá phải mòn. Nước biết hạ mình ở chỗ thấp, vì không tranh không giành nên cũng không thất bại. Giống như biển, vì chịu ở nơi thấp nên mới có thể làm vua trăm sông. “Thượng thiện nhược thủy”, bởi vì nước vô tư, hiền hòa, làm lợi cho vạn vật, nên Lão Tử cho rằng nước rất gần với Đạo.

Vân là gì? Vân là mây, nhưng chẳng phải mây cũng chính là nước đó sao? Nhưng lại là nước sau khi đã thăng hoa. Thấp nhất là nước, nhưng cao nhất lại là mây. Nếu như khi ở nơi thấp nước biết thuận theo Đất, thì khi ở trên cao kia mây lại thuận theo Trời. Mây dung ung nhàn tản, vô tư quên ngày tháng, cứ thế an nhàn phiêu đãng, quả là một cảnh giới siêu phàm thoát tục.

Mây và nước cũng giống như cách hành xử của một bậc chân nhân đắc Đạo: Ở nơi thấp thì đại thiện đại nhẫn, bao dung vạn vật; ở trên cao thì thanh tĩnh vô vi, tiêu dao tự tại.

Ấy là Đạo.

(Ảnh minh họa: pixabay.com)

Còn nói về lời ca tiếng hát, ta lại thấy man mác một chữ “tình”.

Vị đạo sĩ là người tu luyện, mà tu luyện thì cần phải dứt khỏi thất tình lục dục, buông bỏ mọi cái tình của thế gian, cuối cùng đạt đến sự thanh tịnh vô vi, cũng chính là cảnh giới của bậc chân nhân đắc Đạo.

Nhưng đạo sĩ vì chưa thể buông bỏ cái tình với người thiếu nữ mà chàng coi là tri kỷ tri âm, nên mới dệt nên câu chuyện thơ mộng giữa núi rừng. Có điều, cái tình của chàng rất khác với ái tình nơi trần thế. Ái tình nơi trần thế chỉ là thứ tình cảm kèm theo sắc và dục, yêu và hận, nghĩa là không thể tách khỏi sắc tình lục dục ở trong đó. Còn cái tình của người đạo sĩ lại là sự giao cảm tâm linh, tâm hồn hòa hợp, là một trạng thái của tinh thần.

Thử hỏi, trong biết bao chuyện tình nơi nhân thế, có bao nhiêu mối tình vẫn gìn giữ được sự sáng trong, thuần khiết, vẹn nguyên cho đến tận giây phút cuối cùng? Mối tình ấy, vì quá trong trắng và thuần khiết, nên mới có thể siêu xuất khỏi cảnh giới của người thường. Cho nên, dẫu vẫn là tình, nhưng lại có thể hòa hợp với Thiền và tiến gần hơn tới Đạo.

Cuối cùng tôi cũng hiểu, vì sao khúc tình ca ấy lại có thể được viết trên nền nhạc của “Vân thủy thiền tâm”. Đó là bởi, chỉ cái tình thuần khiết mới có thể tiến gần hơn tới Thiền và Đạo. Cũng giống như những người tu luyện giữa đời thường, vẫn phải thành gia lập thất, lặn lội giữa dòng đời trong đục, đối mặt với đủ mọi cám dỗ của tình sắc chốn thế gian, mà vẫn giữ được tâm mình trọn vẹn trong Đạo.

Cuối cùng, mời bạn và tôi, chúng ta hãy cùng để tâm mình lắng lại qua nhạc khúc “Vân thủy thiền tâm”:

Tâm Minh

Truyện ngắn song ngữ: Cuộc hành trình tới gặp Đức Phật của chàng trai vô gia cư

CUỘC HÀNH TRÌNH TỚI GẶP ĐỨC PHẬT CỦA CHÀNG TRAI VÔ GIA CƯ

One day, a young homeless man caught the mouse that was stealing his food.

Một ngày nọ, cậu thanh niên vô gia cư bắt được con chuột đang lấy phần thức ăn của cậu.

Why are you stealing from me? I am a homeless man, can’t you steal from richer people?

“Tại sao ngươi lại lấy của ta, sao ngươi không lấy của những người giàu có hơn?”

It’s your destiny, you can only have eight items in your possession. No matter how much you beg, this is all you will be able to have.

Đó là số phận của cậu rồi, cậu chỉ có được 8 thứ này thôi. Cho dù cậu có xin bao nhiêu đi nữa, thì tất cả những gì cậu có được chỉ là thế này thôi.

The young man was shocked and said, why is this my destiny?

Cậu thanh niên ngạc nhiên nói: “Tại sao đó lại là số phận của ta?”

The mouse replied, I do not know. You should try and ask the Buddha.

Con chuột đáp lại: “Tôi không biết. Cậu thử tới hỏi Đức Phật xem sao.”

So, the homeless man went on a journey to meet Buddha.

Và cậu thanh niên vô gia cư bắt đầu hành trình của mình tới gặp Đức Phật.

After walking for hours, he decided to rest. He found a cottage and the noble family welcomed the traveler.

Sau khi đi được một vài giờ đồng hồ, cậu quyết định nghỉ một lát. Cậu thấy một ngôi nhà nhỏ và những người trong gia đình ấy rất hiếu khách.

After hearing his story they said, we have a young daughter who cannot speak. Can you ask Buddha “what do we have to do to make her speak?”

Sau khi nghe câu chuyện của cậu thanh niên, họ nói: “Chúng tôi có một đứa con gái bị câm. Cậu có thể hỏi Đức Phật chúng tôi phải làm gì để giúp cháu có thể nói được không?”

Next morning, the homeless man thanked them for shelter and promised to ask Buddha the question.

Sáng hôm sau, cậu thanh niên cảm ơn gia đình đã cho cậu trú chân và hứa sẽ hỏi Đức Phật giúp họ.

Further on his journey, he met a wizard who gave him a question too. Can you please ask the Buddha what do I have to do to go to heaven?

Cậu tiếp tục lên đường và gặp một pháp sư cũng muốn nhờ anh hỏi Đức Phật: “Cậu có thể hỏi Đức Phật tôi phải làm gì để lên được thiên đàng?”

The young man obliged and on his remaining journey befriended a turtle who helped him cross the river.

Cậu thanh niên nhận lời và trong những ngày hành trình còn lại, cậu đã gặp con rùa và nó giúp cậu qua sông.

The turtle had his own question for Buddha, can you please ask the Buddha, “What do I have to do to become a dragon?”

Con rùa cũng có câu hỏi muốn gửi tới Đức Phật: “Cậu có thể hỏi Đức Phật tôi phải làm gì để có thể trở thành con rồng được không?” 

The young man thanked the turtle and continued on his journey.

Cậu thanh niên cảm ơn con rùa và tiếp tục chuyến đi.

Finally, the young man meets the Buddha. Buddha announced that he would just be answering three questions.

Cuối cùng, cậu đã gặp được Đức Phật. Đức Phật nói rằng Ngài sẽ chỉ trả lời ba câu hỏi của cậu.

But the homeless man had four questions so, he thinks carefully.

Nhưng cậu thanh niên lại có bốn câu hỏi và cậu cân nhắc kĩ lưỡng.

He thinks about the turtle living for 500 years trying to become a dragon. The wizard living for 1000 years trying to go to heaven. The girl who has to live her whole life unable to speak.

Cậu nghĩ tới con rùa đã sống 500 năm và mong muốn hóa thân thành rồng. Vị pháp sư sống 1000 năm chờ ngày Đắc Đạo. Cô gái không thể nói được gì trong suốt quãng đời còn lại.

He then decides to ask all their questions.

Và cậu quyết định hỏi Đức Phật ba câu hỏi ấy.

On hearing all the questions, the Buddha answered. The turtle is unwilling to leave the comfort of his shell which is stopping him from becoming a dragon.

The wizard always carries his staff and that is keeping him from heaven.

As for the girl, she will be able to speak when she will meet her soulmate.

Sau khi nghe xong, Đức Phật trả lời. Con rùa thật sự không muốn buông bỏ lớp mai thoải mái của nó.

Vị pháp sư luôn luôn không muốn buông bỏ những tài thuật của mình.

Còn cô gái thì sẽ nói được khi cô gặp được người tri kỉ của mình.

On his return journey, the homeless man tells everyone the answers to their questions.

Trên hành trình trở về, cậu thanh niên nói với mọi người câu trả lời cho những câu hỏi của họ.

As a token of gratitude, the turtle rewarded the young man with its shell filled with pearls.

Con rùa đã tặng cho cậu cái mai chứa đầy ngọc trai của mình thay cho lòng biết ơn.

Thank you, I no longer need this as I am a dragon now, and he flew away.

“Cảm ơn cậu, tôi không còn cần những thứ này nữa khi tôi là một con rồng”, và nó liền bay đi.

The wizard before leaving for heaven gave his staff to the young man.

Vị pháp sư trước khi lên Thiên Đàng đã tặng lại cây gậy phép thuật cho cậu thanh niên.

The young man now has wealth from the turtle and power from the wizard.

Cậu thanh niên giờ đã trở nên giàu có và quyền lực nhờ chú rùa và vị pháp sư.

He goes back to the family that gave him shelter. While telling them their answer, the daughter came downstairs and said, “Is that the man that was here last week?” The young girl and the homeless young man have now found their soulmate.

Cậu quay trở lại gia đình đã cho cậu tá túc ngày trước. Khi nói với họ câu trả lời của Đức Phật, người con gái đã đi xuống và nói rằng: “Đây có phải là chàng trai đã ở đây vào tuần trước không?” Cô gái trẻ và cậu thanh niên đã tìm được người bạn tri kỉ của mình.

Thảo An

 

Đọc nhiều

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài. Trong kiếp nhân sinh này, mỗi người đều có sự lựa...

Có gì ở bệnh viện đa khoa quốc tế hơn 20.000 m2 mới khai...

Vừa qua, tại Hà Nội có thêm một bệnh viện đa khoa quốc tế hiện đại đi vào hoạt động. Chỉ sau một thời...

Cập nhật dịch COVID-19 sáng 2/3: Số người tử vong trên thế giới tăng...

Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc (NHC) hôm nay (2/3) thông báo có thêm 42 ca tử vong vì COVID-19 trong ngày...

Mặc tin đồn hẹn hò ‘bủa vây’, Bích Phương diện đồ gợi cảm dự...

Bích Phương vô cùng quyến rũ trong tiệc sinh nhật của "soái ca" Đăng Khoa. Lẻ bóng “lâu năm”, dường như các fan hâm mộ...