Phật học

Vì bạn mà đến: Gặp người hữu duyên trao chân tướng, thiện – ác một niệm định tương lai…

Nhận thức chúng ta thật hữu hạn
Ngàn năm nương náu chốn nhân gian,
Không tin trên đời có thần, Phật
Che mờ phúc phận của Trời ban.

Mắt thấy tai nghe, phải đo lường,
Ta giới hạn mình, thật đáng thương!
Vì chút danh lợi mà tranh đấu,
Giống như con rối mãi mê cuồng.

Nhiều điều không thấy vẫn tồn tại,
Ai đo được phúc đức ngắn – dài?
Ai đếm được tình yêu lớn – nhỏ?
Đừng vì không thấy nói là sai!

Nguồn gốc sự sống dần thấu tỏ,
Phía sau chân trời như rộng mở,
Từ ngày đọc sách Chuyển Pháp Luân,
Bao điều hoang mang dần sáng rõ.

Ảnh: Tân Sinh

Thương bạn ngoài kia vẫn đắm chìm,
Vì bạn mà đến, nên tôi tìm…
Gặp người hữu duyên, trao chân tướng,
Đánh thức phần thiện từ trong tim.

Con người sinh ra đều cao quý,
Nếu biết lựa chọn theo chính lý,
Thiện – ác một niệm, định tương lai,
Tân kỷ nguyên chờ người minh trí.

Còn chân trời phía sau chân trời,
Nơi mỹ hảo đằng kia đang đợi,
Sinh mệnh trở về Chân – Thiện – Nhẫn,
Ánh quang huy chiếu rọi sáng ngời.

Hà Nội, 14/10/2019

 

Chữ ‘tâm’ trong Phật giáo

Với tư cách là một hệ thống tôn giáo – triết học – văn hoá – đạo đức – lối sống, kinh điển Phật giáo mênh mông, pháp môn tu tập muôn ngàn, có khả năng thích ứng với đủ mọi căn cơ nghiệp lực. Nhằm khai mở cho mọi người thấy được, và tăng trưởng cái bản Tâm thanh tịnh của chính mình.

Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa tâm (般若波羅密多心經) dùng luận điểm “Sắc tức thị không, Không tức thị sắc” (色即是空,空即是色) để nói về trí tuệ của chân tâm, trí tuệ Bát-nhã. Trí Bát-nhã có hai loại: căn bản trí (根本智) là trí tuệ gốc, mọi chúng sinh đều có nhưng vì mê muội mà không tự biết; hậu đắc trí (後得智) là kết quả của quá trình tu chứng, duy bậc Phật và Bồ-tát mới có được. Thực tướng của chân tâm là không, không vướng mắc, không giả dối. Tâm là thể của pháp giới, thế giới hiện tượng và sự vật đều từ tâm mà hiện thành, Phật và chúng sinh đều lấy tâm làm bản thể, cảnh giới vô thượng Niết-bàn cũng từ tâm mà hiện ra, không có cái gì ngoài tâm mà tự có tự thành. Tu theo trí tuệ, quán chiếu chân tâm thanh tịnh để thoát khỏi dòng mê mờ mắc phải phiền não sinh tử, đến bến bờ giác ngộ hoàn  toàn, chứng đắc Niết-bàn  (Ba-la-mật, 到彼岸).

Với tư cách là một hệ thống tôn giáo – triết học – văn hoá – đạo đức – lối sống, kinh điển Phật giáo mênh mông, pháp môn tu tập muôn ngàn, có khả năng thích ứng với đủ mọi căn cơ nghiệp lực. Nhằm khai mở cho mọi người thấy được, và tăng trưởng cái bản Tâm thanh tịnh của chính mình.
Với tư cách là một hệ thống tôn giáo – triết học – văn hoá – đạo đức – lối sống, kinh điển Phật giáo mênh mông, pháp môn tu tập muôn ngàn, có khả năng thích ứng với đủ mọi căn cơ nghiệp lực. Nhằm khai mở cho mọi người thấy được, và tăng trưởng cái bản Tâm thanh tịnh của chính mình.

Trong kinh Đại bát Niết-bàn, Đức Phật có dạy “Tất cả chúng sinh đều có bản tâm thanh tịnh. Chúng sinh chẳng nhận thấy được vì bị vô minh che lấp”. Nghĩa là, mọi người đều có bản tâm thanh tịnh (căn bản trí), trong sáng tròn đầy, vắng lặng; nhưng vì bị ngoại cảnh bên ngoài chi phối, tâm đó luôn bị xao động, “tâm viên ý mã” , thành vọng tâm, vọng động vọng tưởng  theo cảnh giới do giác quan đưa lại, thành ra tâm trí bất an điên đảo, tạo tội tạo nghiệp trong vòng luân hồi bất diệt.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật giảng cho Ngài A-nan và thính chúng về cái thể thường định của chân tâm. Mở đầu của Kinh, Đức Phật đã nói rõ: cội nguồn của sinh tử luân hồi là vọng tâm, cội nguồn của Bồ-đề Niết-bàn là chân tâm; biết nơi mình có chân tâm thường trú mà tu hành (Thủ Lăng Nghiêm) là ngộ, là thành Phật; không biết điều đó là mê, là chúng sinh.

Kinh Hoa Nghiêm chủ trương “Pháp giới duy tâm”, tất cả các pháp trong pháp giới đều do tâm biến tạo ra. Đức Phật dạy: “Nếu người muốn biết rõ, Hết thảy Phật ba đời, Nên xét tính pháp giới, Tất cả do tâm tạo” (Nhược nhân dục liễu tri, Tam thế nhất thiết Phật, Ưng quán pháp giới tính, Nhất thiết duy tâm tạo. 若人欲了知, 三世一切佛, 應觀法界性, 一切唯心造).

heo Phật Quang đại từ điển, kinh Hoa Nghiêm, nghĩa bao quát của tâm là là “tích tập” (tích tập danh tâm 積集名心), là thức thứ tám, A-lại-da thức. Duy thức tông cho rằng cái “tích tập/tâm” ấy khởi lên (tức là có xao động tâm tư – vô minh duyên) sinh ra “ý” (thức thứ bảy, Mạt-na thức, có khuynh hướng hoạt động của cái tôi – Hành duyên), và “thức” là sự phản ánh, nhận biết về thế giới khách quan – cảnh do cảm giác của các căn đưa lại. Như vậy, Tâm – Ý – Thức do cùng một thể Tâm mà ra.
heo Phật Quang đại từ điển, kinh Hoa Nghiêm, nghĩa bao quát của tâm là là “tích tập” (tích tập danh tâm 積集名心), là thức thứ tám, A-lại-da thức. Duy thức tông cho rằng cái “tích tập/tâm” ấy khởi lên (tức là có xao động tâm tư – vô minh duyên) sinh ra “ý” (thức thứ bảy, Mạt-na thức, có khuynh hướng hoạt động của cái tôi – Hành duyên), và “thức” là sự phản ánh, nhận biết về thế giới khách quan – cảnh do cảm giác của các căn đưa lại. Như vậy, Tâm – Ý – Thức do cùng một thể Tâm mà ra.

Nói về cái dụng của tâm: trong kinh Hoa Nghiêm đức Phật nói “Một khi chỉ một thoáng tâm sân hận khởi lên mà chúng ta không kiềm chế khắc phục được thì lập tức muôn ngàn đau khổ chướng ngại tiếp nối theo sau” (Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai); kinh A-di-đà nói, “Người nào chấp trì danh hiệu của Ngài trong một, hai, cho đến bảy ngày mà một lòng không rối loạn (nhất tâm bất loạn) thì lúc lâm chung Phật A-di-đà và các Thánh chúng sẽ hiện ra trước mắt, được vãng sinh Tây phương”; kinh Di giáo Đức Phật dạy: “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện”, nghĩa là,  cái tâm của chúng ta luôn biến hiện theo cảnh vật bên ngoài, qua sự hiểu biết chính pháp, bằng cách tụng kinh niệm Phật, thiền quán, khắc chế được tâm ý, trụ tâm ở một chỗ, không còn vọng tâm loạn tưởng, khi đó không có việc gì mà người tu tập không hiểu biết sáng tỏ, không biện luận, thực hành được một cách thông suốt.

Vậy tâm là gì, tâm ở đâu, và quá trình tâm biến hiện tạo tác ra sao?

Theo Phật Quang đại từ điển, kinh Hoa Nghiêm, nghĩa bao quát của tâm là là “tích tập” (tích tập danh tâm 積集名心), là thức thứ tám, A-lại-da thức. Duy thức tông cho rằng cái “tích tập/tâm” ấy khởi lên (tức là có xao động tâm tư – vô minh duyên) sinh ra “ý” (thức thứ bảy, Mạt-na thức, có khuynh hướng hoạt động của cái tôi – Hành duyên), và “thức” là sự phản ánh, nhận biết về thế giới khách quan – cảnh do cảm giác của các căn đưa lại. Như vậy,  Tâm – Ý – Thức do cùng một thể Tâm mà ra.

Với Phật giáo, tu là chuyển nghiệp, là sửa mình để thay đổi số phận theo chiều hướng tích cực, nhằm đạt tới cứu cánh là giải thoát. Như vậy, tâm là một thế giới cần khám phá hơn bất cứ điều gì khác. Nhưng bằng trực quan chúng ta không thấy, không biết, và không hiểu được cái tâm, mà phải suy luận thông qua những hiệu ứng mà nó đem lại.
Với Phật giáo, tu là chuyển nghiệp, là sửa mình để thay đổi số phận theo chiều hướng tích cực, nhằm đạt tới cứu cánh là giải thoát. Như vậy, tâm là một thế giới cần khám phá hơn bất cứ điều gì khác. Nhưng bằng trực quan chúng ta không thấy, không biết, và không hiểu được cái tâm, mà phải suy luận thông qua những hiệu ứng mà nó đem lại.

Vậy cái gì là nguyên liệu để tâm tích tập? Đó là những hành vi (thân), lời nói (khẩu), suy nghĩ (ý) có khuynh hướng (tác ý) của hiện tại và quá khứ. Nói cách khác, tâm chính là nghiệp. Nghiệp, nguyên ngữ tiếng Phạn là “karma”, Trung Quốc phiên âm là “yết-ma”  (羯磨), có nghĩa là sự tạo tác có tác dụng của ý chí làm động cơ (tác ý). Trong kinh Tăng nhất A-hàm Đức Phật dạy: “Này hỡi các Tỳ-khưu, Như Lai xác nhận rằng chính Tác Ý là Nghiệp. Có ý muốn làm mới có hành động, bằng thân, khẩu hay ý”. Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải (720-814) nói “Tâm cảnh không dính mắc nhau là giải thoát”, nghĩa là, ngũ căn vẫn tiếp xúc với ngoại giới, vẫn nghe, vẫn thấy, vẫn biết tất cả nhưng tâm vẫn giữ được thanh tịnh, không ấn tượng vướng mắc, như vậy thì không bị phiền não, là giải thoát. Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông (1258-1308) cũng có dạy: “Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền”, nghĩa là, khi nào đối trước cảnh trần mà tâm vẫn viên minh tròn đầy vắng lặng, không xao động ấn tượng (vô tâm), tức là không tác ý, không tạo nghiệp, thì đó là cảnh giới của thiền định Niết-bàn, của giải thoát.

Với Phật giáo, tu là chuyển nghiệp, là sửa mình để thay đổi số phận theo chiều hướng tích cực, nhằm đạt tới cứu cánh là giải thoát. Như vậy, tâm là một thế giới cần khám phá hơn bất cứ điều gì khác. Nhưng bằng trực quan chúng ta không thấy, không biết, và không hiểu được cái tâm, mà phải suy luận thông qua những hiệu ứng mà nó đem lại. Khi Đức Phật nói “Nhất thiết duy tâm tạo” không có nghĩa là Ngài cho rằng “cái tâm tạo ra thế giới hiện tượng và sự vật”, mà là cái “tâm tích tập” bản hữu (vốn có, Nho giáo gọi là Lương tri – Lương năng) và tân huân (mới được tích tập) bị năng lượng của nghiệp lực thôi thúc sinh ra xao động (vô minh) tác ý, căn (chủ thể nhận thức) nhận biết về cảnh (đối tượng nhận thức) tạo nên tổng thể nhận thức về thế giới khách quan một cách sai lầm. Những việc làm (thân) lời nói (khẩu) không có chủ tâm, không có tác dụng tạo nghiệp. Khi có nguồn lực từ tâm ý tác động, nó hướng theo khuynh hướng thiện hay bất thiện, tạo thành nghiệp thiện hoặc bất thiện. Hành vi có khuynh hướng ấy trở lại huân tập tâm và làm biến đổi nó, tức là chuyển nghiệp. Do vậy, trong kinh Trung A-hàm, Đức Phật khẳng định “Trong ba nghiệp thân, khẩu và ý, thì ý nghiệp là tối quan trọng”.

Minh Chính

Phật dạy: 2 thứ không được nợ dù là người thân nhất, ai cũng nên khắc cốt ghi tâm

Phật khuyên rằng, khi sinh ra trong cuộc đời này, chúng ta không nên nợ nhau những món nợ này cho dù đó là người thân yêu nhất.

Ai cũng nên nhớ rằng nhà Phật đã khuyên , khi sinh ra trong cuộc đời này, chúng ta không nên nợ nhau những món nợ này cho dù đó là người thân yêu nhất. Bởi thực tế cũng cho thấy nếu có thể không nợ người thân những điều kể trên, thì có lẽ như vậy gia đình sẽ càng êm ấm thuận hoà. Đó cũng chính là nền móng vững vàng cho hai từ “hạnh phúc”!

Ảnh minh họa.

Tiền bạc

Bạn chớ dại mà nghĩ rằng, đã là anh em trong nhà thì không nên phân biệt của anh của tôi, như vậy mới chứng tỏ được tình cảm thân thiết. Nhưng theo kinh nghiệm từ xa xưa thì, dù có là anh em ruột thịt thì cũng phải tiền bạc phân minh để tránh sứt mẻ tình cảm, nhất định không nên nợ tiền bạc.

Do vậy dù làanh em người thân thực ra đôi khi cũng không thể rõ ràng quá về mặt tài chính. Bạn vẫn có những khoản cần phải thật sòng phẳng, nên trả thì nhất định phải trả đúng lúc. Có như vậy mới giữ được tình cảm lâu bền.

Có câu: Anh em ruột thịt cũng phải tiền bạc phân minh để tránh sứt mẻ tình cảm. Và đừng nghĩ sòng phẳng quá sẽ khiến anh em mất vui, ngược lại, nếu bạn không rõ ràng minh bạch mới tạo cho đối phương tâm lí không thoải mái.

Cho nên đã là người thân, hoặc là có thể đối xử với nhau như tích Khổng Dung nhường lê (là tác phẩm có tính giáo dục cao); nếu không, tốt nhất hãy rạch ròi các món nợ tiền bạc với anh em người thân.

Nợ thời gian

Ai trong chúng ta cũng cần nhớ, người thân bên cạnh chúng ta không bao giờ yêu cầu chúng ta phải có sự thành công to lớn, mà đơn giản chỉ cần mọi thành viên trong gia đình luôn đùm bọc, yêu thương lẫn nhau, vui vẻ, khỏe mạnh.

Đó chính là hạnh phúc chứ không phải là có nhiều tiền, nhà lầu xe hơi hay mỗi ngày được ăn sơn hào hải vị.

Vì trong cuộc sống này thì trách nhiệm của cha mẹ chính là nuôi dưỡng, giáo dục cũng như định hướng tư tưởng cho con mình, để con cái trưởng thành trong môi trường tốt, nhận được nền giáo dục văn minh.

Bài học cuộc sống mà ai cũng nên học hỏi – chính vì thế ai trong chúng ta cũng không nên lãng phí thời gian, hãy trân trọng từng giây từng phút quý giá bên người thân để yêu thương và chăm sóc họ. Đừng đợi đến khi người thân không còn nữa mới cảm thấy hối hận ăn năn.

 

 

Phật dạy: ‘Hết củi thì lửa tắt, đừng tiếc nuối những đốm tro tàn’

Chuyện gì trên đời cũng vậy, dù phồn hoa rực rỡ đến mức nào, cũng sẽ có lúc hóa thành tro bụi. Hết củi thì lửa tắt, đừng tiếc nuối những đốm tro tàn.

Củi hết thì lửa tắt

Con người ta dùng lửa để nấu nướng, dọn rẫy vườn, sưởi ấm, thậm chí là vui chơi trong những đêm cắm trại. Thế nhưng, khi hết củi, lửa sẽ tự tắt. Chuyện gì trên đời cũng vậy, dù phồn hoa rực rỡ đến mức nào, cũng sẽ có lúc hóa thành tro bụi. Tham muốn và khát vọng của con người chính là những cành củi khô, duy trì ngọn lửa vui, buồn, sinh, tử. Có hoan hỉ, ắt có đau lòng. Có khởi sinh, tất có diệt vong. Chuyện gì cũng vậy, nên con người đừng quá cố chấp.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Vạn vật biến chuyển vô thường, không bao giờ đứng yên, dậm chân tại chỗ. Sở dĩ chúng sinh đau khổ, là cố nắm giữ những việc không thể cưỡng cầu. Nước không thể cản ngăn dòng chảy. Gió chẳng ai có thể nắm giữ, níu chân. Đất không thể chạm đến phần sâu thẳm nhất. Và lửa chẳng ai có thể ngăn nó không lụi tàn.

Con người càng chấp niệm, lòng sẽ càng phiền não. Càng ra sức níu giữ, sẽ tự chuốc khổ cho người khác và tự làm đau chính mình. Thế nhưng, khi ta đắm chìm trong bể khổ, nếu mở mắt nhìn về ánh mặt trời, tự nhiên sẽ thấy lòng thanh tịnh lạ lùng.

Đừng tiếc nuối những đốm tro tàn

Có câu chuyện thế này, một người vợ vì ham vinh hoa phú quý, nên đã bỏ chồng, trở thành tỳ thiếp của viên phú hộ giàu có nhất trong làng. Người chồng vì quá bi phẫn mà quyết chí tu học, cuối cùng trở thành trạng nguyên, vinh quy bái tổ về làng.

Năm đó, nhà bá hộ kia vì đắc tội với quan trên mà phá sản, tiền bạc vì để chạy tội mà khánh kiệt hoàn toàn. Người vợ vong ân phụ nghĩa năm xưa giờ chỉ là một kẻ ăn mày. Trong bộ quần áo rách rưới, mặt mũi lấm lem, chị nhìn thấy quan trạng uy phong sao quen quá, hóa ra chính người chồng cũ của mình. Người vợ chạy ra ngỏ ý muốn nối lại tình xưa. Như quan trạng chỉ lấy một bát nước và đổ xuống bảo: bát nước khi đã hắt đi, chẳng thể nào lấy lại được.

Chuyện gì cũng vậy, một khi đã qua, chẳng thể cưỡng cầu. Tội nghiệp đã làm, chẳng thể thu lại. Phồn hoa cháy rụi, chỉ còn tàn tro. Con người đừng mãi tiếc nuối quá khứ, cũng như dày vò vì tội lỗi của chính mình. Sống, hãy biết tha thứ và luôn mở ra cho bản thân một cơ hội để làm lại và thay đổi chính mình.

Tương lai vốn dĩ không thể biết trước. Là nắng ấm rực rỡ hay bóng đêm u uẩn chỉ có thể quyết định trong lòng bàn tay bạn.

Theo Xuân Quỳnh/Khỏe & Đẹp

 

Phật nhìn nhân tâm, không thực tu sao thành chính quả?

Những vụ việc người tu hành không hành xử đúng với đạo, thậm chí vi phạm luật pháp thỉnh thoảng lại bôi một vết nhơ lên cộng đồng tu luyện. Không phải Pháp không tốt, Đạo không hay, mà là người xuất gia chưa quyết tâm tu bỏ những tính xấu hoặc mục đích tu luyện chưa đúng đắn. Trong lịch sử đã ghi lại nhiều câu chuyện cảnh tỉnh người không thực tu vẫn còn nguyên giá trị.

Mới đây lại có vụ việc một người tu hành, chỉ vì xích mích trong khi tham gia giao thông mà đã gây gổ, tấn công làm hỏng tài sản của người khác. Là một công dân bình thường, tâm tính nóng nảy, hung hãn và vô lối đã là không thể chấp nhận được. Là người tu, thì càng không thể hành sự tùy tiện mà làm hoen ố tấm áo mình đang mang trên thân.

Từ cổ chí kim, người tu hành đều coi trong việc tu tâm dưỡng tính. Nhưng cũng có những người tu luyện vẫn lưu giữ những suy nghĩ không trong sạch. Câu chuyện được ghi chép trong lịch sử dưới đây cho thấy cuối cùng kết quả nào sẽ xảy ra khi người tu không chịu buông tâm xuống mà chỉ giả tu hình thức.

Thời Bắc Ngụy, trong ngôi chùa Sùng Chân, thành Lạc Dương có hòa thượng Huệ Ngưng, chết rồi sau bảy ngày còn sống lại. Khi sống lại, ông nói: “Diêm Vương đọc hồ sơ của ta, phát hiện nhìn nhầm tên, vì lẽ đó đem ta trở về”. Huệ Ngưng sau này đã kể lại chi tiết hơn về sự tình.

Ông nói lúc đó đến trước mặt Phán quan còn có năm vị hòa thượng khác. Một là hòa thượng Trí Thánh của chùa Bảo Minh, do ngồi thiền khắc khổ tu hành đã được lên Thiên Thượng. Hai là một hòa thượng của chùa Bàn Nhược do có thể đọc thuộc lòng bộ Kinh Niết Bàn 40 quyển, thực tu tinh tấn nên cũng được lên Thiên Thượng.

Ảnh minh họa: Xuehua.

Người thứ ba là hòa thượng Đàm Mô của chùa Dung Giác, vị này có thể giảng thuyết cả kinh Niết Bàn và Hoa Nghiêm, đến nghe ông giảng thường có hơn ngàn người mỗi lần. Nhưng Diêm Vương nhìn rõ chân tơ kẽ tóc, liền nói: “Trong khi giảng bài trong tâm ngươi luôn nghĩ về việc mình không như những người khác, lấy ngạo khí đối xử với vạn vật, đây là hòa thượng không có tiền đồ nhất. Ta hiện tại chỉ nhìn đã có thể biết ngươi không ngồi thiền tụng kinh, mặc kệ ngươi có giảng hay không giảng kinh”. Đàm Mô nhất thời đáp lại rằng: “Tôi chỉ thích giảng kinh, thực sự chưa quen tụng kinh”. Diêm Vương liền hạ lệnh, lập tức có mười người áo đen đem vị hòa thượng giải về phía Tây Bắc của căn phòng, nơi đó toàn một màu đen tối bao trùm, xem ra không phải là một nơi tốt lành gì.

Người thứ tư là Đạo Hoằng của chùa Thiện Lâm. Vị này nói mình đã dạy được bốn thế hệ đồ đệ và làm nên mười bức tượng Phật. Ông ấy nghĩ mình có thể lên Thiên Thượng. Thế nhưng Diêm Vương lại nói: “Người xuất gia nhất định phải chuyên tâm thủ đạo, toàn tâm toàn ý ngồi thiền tụng kinh, mặc kệ thế sự, không làm vì truy cầu. Ngươi tuy rằng đúc tượng Phật nhưng lại là vì muốn lấy tài vật của người khác, lấy được tài vật rồi sẽ sản sinh lòng tham, có lòng tham chính là không loại trừ tam độc (tham, sân, si), không loại trừ tam độc sẽ có phiền não”. Ông này sau đó cũng bị đưa vào phòng tối.

Người thứ năm là Bảo Minh của chùa Linh Giác. Vị này nói trước khi tu luyện đã từng là Thái thú Lũng Tây, chính là người xây nên chùa Linh Giác, sau đó xuất gia tu Phật. Tuy rằng không ngồi thiện tụng kinh, nhưng có thể lễ bài đúng hạn. Diêm Vương ra phán quyết đối với vị này rằng: “Lúc ngươi làm Thái thú, làm trái đạo lý, ăn hối lộ, mượn danh nghĩa sửa chùa, trắng trợn cướp đoạt mồ hôi nước mắt của nhân dân. Ngôi chùa này dựng được cũng không phải công lao của ngươi, không cần tự mình khoe thành tích”. Sau đó y cũng bị những người áo đen giải về phòng tối.

Ảnh minh họa: Tinmoi.

Thái hậu nước Tây Ngụy (một triều đại thuộc thời Nam Bắc triều) nghe Huệ Ngưng nói bán tín bán nghi, liền phái Thị lang Hoàng Môn đi điều tra về các vị hòa thượng trong câu chuyện kia. Khi đi xem xét, quả thật có những ngôi chùa và những vị hòa thượng tên như vậy tồn tại ở trong thành. Thái hậu lúc này mới tin tưởng nhân quả là chân thật, bèn mời 100 vị hòa thượng trường kỳ tụng niệm ở trong cung. Đồng thời, bà cũng ban bố lệnh cấm các nhà sư đi quyên góp tài vật đúc tượng Phật. Ngoài ra, triều đình còn chiêu cáo rằng nếu có người muốn quyên tặng làm tượng Phật thì tự họ có thể làm tượng mà không cần nhờ thầy chùa.

Hòa thượng Huệ Ngưng sau đó cũng lên núi Bạch Lộc ẩn cư tu luyện. Khắp một vùng kinh thành từ đó các hòa thượng đều chuyên tâm ngồi thiện tụng kinh, tăng cường tu luyện bản thân.

Chuyện cũ này được lưu lại cũng là để đánh thức người tu hành, thực hành cải thiện bản thân, tu tâm tính là điều quan trọng, những việc làm hình thức khác cũng như ảo mộng. Phật chỉ nhìn nhân tâm, không nhìn những thành tích bề mặt. Đừng chỉ tìm tới cửa Phật để cầu mong một lối thoát, chờ đợi phúc báo, thành tựu mà không thực tâm tu bỏ tâm xấu. Nếu còn lợi dụng việc tu hành để kiếm tiền, kiếm danh từ sự sùng bái, tín ngưỡng của quần chúng thì còn đắc trọng tội. Đừng thấy nhân tình thế thái hữu hạn mà coi thường hậu họa. Nhân sinh vô thường, có rất nhiều điều ta không biết nhưng bi thảm có lẽ đang chờ đợi sẵn rồi.

 

 

Gia đình Thủy Tiên hiến đất xây chùa tại quê nhà Kiên Giang

Tham gia hành trình “Việt Nam tươi đẹp”, ca sĩ Thủy Tiên trong vai “hướng dẫn viên” đưa các nghệ sĩ về quê hương Rạch Giá (Kiên Giang) của mình. Tại đây cô đã chia sẻ câu chuyện hiến đất xây chùa của gia đình mình.

Ca sĩ Thủy Tiên làm 'hướng dẫn viên' giới thiệu Kiên Giang quê mình khi tham gia chương trình 'Việt Nam tươi đẹp'. Ảnh: VivianCa sĩ Thủy Tiên làm ‘hướng dẫn viên’ giới thiệu Kiên Giang quê mình khi tham gia chương trình ‘Việt Nam tươi đẹp’. Ảnh: Vivian

Tiếp nối hành trình “Việt Nam tươi đẹp”, Ngô Kiến Huy, Huỳnh Lập, Khả Như, Quang Trung được ca sĩ Thủy Tiên dẫn về quê hương Kiên Giang vui chơi, du lịch trải nghiệm. Tại đây các nghệ sĩ còn gặp gỡ mẹ của Thủy Tiên, tìm hiểu về văn hóa Khmer vô cùng đặc sắc.

Một trong những địa điểm thể hiện rõ nét văn hóa vùng đất Kiên Giang chính là chùa Láng Cát. Tại ngôi chùa, Thủy Tiên đã gặp mẹ của mình khi ghé tham quan ngôi chùa cùng các nghệ sĩ. Đặc biệt, ca sĩ Thủy Tiên và mẹ lần đầu chia sẻ về lịch sử ngôi chùa Láng Cát khi đây chính là nơi gắn liền với gia đình và tuổi thơ của cô. Cụ thể, gia đình của Thủy Tiên (từ thời ông của cô) đã hiến đất xây dựng chùa, góp phần duy trì nét đẹp văn hóa tín ngưỡng vùng đất Kiên Giang.

Ca sĩ Thủy Tiên đã chia sẻ câu chuyện hiến đất xây chùa của gia đình mình khi tham gia hành trình Việt Nam tươi đẹp. Ảnh: VivianCa sĩ Thủy Tiên đã chia sẻ câu chuyện hiến đất xây chùa của gia đình mình khi tham gia hành trình Việt Nam tươi đẹp. Ảnh: Vivian

Được biết vợ chồng cầu thủ Công Vinh, ca sĩ Thủy Tiên có một cuộc sống khá đặc biệt, không quá dấn thân showbiz hay giới nổi tiếng, mà lùi lại, tu tập, và cùng hướng tới Phật pháp. Được biết, ngày 20/4/2015, trong khi các đồng đội ở Becamex Bình Dương chuẩn bị lên đường sang Trung Quốc tham dự AFC Champions League, thì Công Vinh ở lại Hà Nội, cùng Thủy Tiên tới lễ chùa Long Quang tự (Thanh trì, Hà Nội). Được biết, tại đây, 2 vợ chồng Công Vinh đã tham gia Lễ Quán đảnh truyền pháp của Mật Tông Tây Tạng. Tại đây, Công Vinh chính thức là Phật tử, Thủy Tiên cũng đã thụ lễ quy y thành Phật tử chính tại chùa này.

Khi trở thành Phật tử thuần thành, cả hai vợ chồng Công Vinh – Thủy Tiên thích đi chùa, ăn chay và làm từ thiện. Năm 2016, hai vợ chồng Công Vinh – Thủy Tiên vừa mới khánh thành cây cầu tình nghĩa ở Kiên Giang để giúp các em học sinh nghèo đến trường an toàn hơn. Bên cạnh đó họ cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động thiện nguyện cho người nghèo.

Đến với Kiên Giang, các nghệ sĩ tham gia hành trình ‘Việt Nam xinh tươi’ đã có dịp tìm hiểu những nét văn hóa độc đáo, trải nghiệm điệu múa đặc trưng của người Khmer. Chương trình tham quan, trải nghiệm văn hóa du lịch Kiên Giang của dàn nghệ sĩ: Ngô Kiến Huy, Quang Trung, Huỳnh Lập, Khả Như, Jin Ju cùng vị khách mời đặc biệt Thủy Tiên được phát sóng vào lúc 17 giờ 10 ngày 8.9 trên kênh HTV9 và phát lại lúc 10 giờ 15 ngày 13.9 trên kênh HTV7.

Thủy Tiên và các nghệ sĩ thích thú khi học điệu múa Khmer. Ảnh: Vivian

Thủy Tiên và các nghệ sĩ thích thú khi học điệu múa Khmer. Ảnh: Vivian

Thanh Tâm (Tổng hợp)

 

Trường hạ chùa Thánh Long tạ pháp an cư

Trường hạ chùa Thánh Long (P.Kỳ Bá, TP.Thái Bình) làm lễ tạ pháp khóa an cư kiết hạ PL.2563 – DL.2019 theo tinh thần luật Phật (truyền thống hậu an cư) vào sáng qua, 1-9.

IMG_3999_640x427.JPGĐại chúng lễ tạ cầu thỉnh Đại lão Hòa thượng Đường chủ

HT.Thích Thanh Dục, Ủy viên Thường trực HĐCM, Chứng minh BTS Phật giáo tỉnh, Đường chủ hạ trường; TT.Thích Thanh Hòa, UV HĐTS, Trưởng BTS Phật giáo tỉnh, Hạ chủ trường hạ; TT.Thích Thanh Định, UV HĐTS, Phó ban Thường trực BTS Phật giáo tỉnh, Chánh Duy-na; TT.Thích Trí Sử, Phó Duy-na trường hạ, cùng gần 100 hành giả an cư thuộc TP.Thái Bình và huyện Vũ Thư.

Tại buổi lễ, TT.Thích Thanh Định tuyên đọc diễn văn khai mạc, ĐĐ.Thích Minh Thành, Trưởng BTS Phật giáo Vũ Thư, Phó Duy-na trường hạ đọc báo cáo tổng kết.

Theo đó, mùa An cư năm nay, 94 Tăng Ni đã vân tập về chùa Thánh Long làm lễ tác pháp vào sáng 16-5 ÂL, khai pháp vào sáng 8-6 ÂL.

Ban tổ chức đã duy trì nghiêm túc các thời khóa tụng niệm, trau dồi Kinh – Luật – Luận. Mỗi bài giảng trong kinh Đại Bảo TíchSa Di Luật giải và Luận Thiền Lâm Bảo Huấn đã được ban giảng huấn truyền dạy cho các hành giả làm hành trang trong 9 tháng hoằng pháp lợi sinh.

Các kỳ hành sám, bố-tát và tụng giới được duy trì theo đúng quy củ của thiền môn miền Bắc. Ngoài ra, ban chức sự đã mời đại diện Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ) tỉnh phổ biến Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2018, thông báo tình hình kinh tế – xã hội tỉnh 6 tháng đầu năm 2019, một số chính sách liên quan đến đất đai cơ sở tự viện, thủ tục bổ nhiệm, kiêm nhiệm trụ trì, đăng ký thuyên chuyển sinh hoạt tôn giáo…

IMG_4019_640x427.JPGNiệm Phật cầu gia bị

IMG_4064_640x427.JPGUBMTTQVN tỉnh tặng hoa chúc mừng

IMG_4024_640x427.JPGĐại biểu tham dự

TT.Thích Thanh Hòa ban đạo từ sách tấn các hành giả an cư, nhấn mạnh An cư là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi vị Tỳ-khiêu, Tỳ-khiêu-ni, đồng thời tán thán tinh thần tu học của quý Phật tử, phát tâm hộ trì Tăng Ni yên tâm tu học.

Dịp này, Thượng tọa cũng thông báo việc Ban Trị sự tỉnh đã thông qua đề án khởi công xây dựng hội trường – nhà làm việc – Tăng xá của trụ sở Tỉnh hội, kêu gọi sự ủng hộ của các cấp chính quyền, chư Tăng Ni trụ trì các tự viện, các mạnh thường quân, Phật tử và người dân hảo tâm công đức để công trình sớm hoàn thành, đưa vào sử dụng, phục vụ các Phật sự của GHPGVN tỉnh và trường hạ cơ sở 1 chùa Thánh Long.

IMG_4014_640x427.JPGLễ Phật cầu gia bị tại chính điện

Được biết, từ nay đến ngày 8-8 ÂL, lần lượt 6 trường hạ trong toàn tỉnh Thái Bình sẽ tổ chức lễ tổng kết, tạ pháp mùa an cư năm nay.

Nhuận Nguyện

 

 

 

Ở hiền thì sẽ gặp lành, ai mà nhân đức Trời dành phúc cho

Đại dịch hạch đã tiêu diệt Đế chế La Mã nhưng dường như nó không nhắm vào tất cả mọi người. Trong quan niệm văn hóa truyền thống Á Đông cũng có khái niệm gọi là “Ôn Thần”. Nếu như gặp người sống thiện lành thì Ôn Thần sẽ mở một lối thoát cho người đó trong kiếp nạn…

Ai là người có thể thoát khỏi dịch bệnh?

Bao quanh Địa Trung Hải từng có một siêu cường quốc kéo dài khắp Châu Âu, Châu Á và Châu Phi, chính là Đế chế La Mã. Nhưng Đế chế hùng mạnh này cuối cùng đã rời khỏi vũ đài lịch sử dưới sự tấn công của bốn dịch bệnh lớn. Đại ôn dịch mạnh đến mức nào mà có thể tiêu diệt cả Đế chế La Mã cường thịnh?

Nhà sử học I-va Griels mô tả về bệnh dịch hạch ở đây rằng: “Sẽ có một số người bắt đầu phát bệnh, mắt sẽ bị xung huyết, khuôn mặt bị sưng và sau đó là cổ họng bị đau khó chịu, và sau đó những người này sẽ vĩnh viễn biến mất trong đám đông. Một số người bị viêm tuyến bẹn, chảy mủ ra nên gây sốt cao. Những người này sẽ chết trong hai hoặc ba ngày”.

Bệnh dịch hoành hành, toàn bộ thành phố La Mã sực lên mùi thối rữa của xác chết ở khắp mọi nơi. Mặc dù bệnh dịch đã phá hủy một đế chế khổng lồ, hủy diệt hàng chục triệu sinh mạng nhưng có một số người đã không phải chịu bất kỳ tổn hại nào. Theo I-va Griels, “Một số người thậm chí là sống cùng với những người bị nhiễm bệnh và tiếp xúc với người đã chết, nhưng họ vẫn hoàn toàn không bị lây nhiễm”.

Bệnh dịch hoành hành đã khiến cả Đế chế La Mã hùng mạnh bị diệt vong. (Ảnh: wikipedia.org)

Bệnh dịch lớn khiến tất cả sợ hãi bàn tán dường như không nhắm vào tất cả mọi người. Theo như cách gọi dân gian của người Á Đông, liệu đó có phải là “Ôn Thần”, có phải nếu ôn dịch xem xét người nào trong sạch thì sẽ tha cho người đó? Giả sử ai đó có thể thoát khỏi bệnh dịch, họ sẽ phải là người thế nào?

Những câu chuyện dưới đây có thể phần nào giúp chúng ta có câu trả lời chăng?…

Dữu Cổn không bỏ rơi anh trai bị nhiễm bệnh

Ở triều nhà Tấn (Trung Hoa), có một ẩn sĩ tên là Dữu Cổn là chú Tấn Minh đế. Khi còn trẻ, ông nổi tiếng là siêng năng, chăm học và hiếu thảo. Thời Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm, niên hiệu Hàm Ninh (275 – 280), đại ôn dịch đã nổ ra. Hai anh trai của Dữu Cổn không may nhiễm bệnh mà chết, còn lại một người anh nữa cũng đổ bệnh.

Khi bệnh dịch ngày càng trở nên nghiêm trọng và khí bệnh tràn ngập khắp nơi, bố mẹ Dữu Cổn muốn đưa ông và các em trai ra ngoài để lánh nạn. Tuy nhiên, Dữu Cổn không chịu rời xa anh trai mình. Người thân và bạn bè đã buộc phải kéo ông đi. Dù vậy, Dữu Cổn vẫn khăng khăng ôm lấy người anh trai bị bệnh mà nói: “Ta sinh ra vốn không sợ bệnh dịch”.

Người thân và bạn bè không có cách nào thuyết phục ông rời xa anh trai mình. Sau khi họ rời đi, Dữu Cổn thức suốt đêm ân cần chăm sóc anh trai, có lúc ôm lấy anh trai mà chảy nước mắt than khóc.

Thời gian trôi nhanh, sau hơn một trăm ngày, bệnh dịch đã dần lắng xuống. Khi những người thân trở về làng, họ rất ngạc nhiên khi thấy Dữu Cổn đã ở cùng anh trai từ sớm đến tối mà vẫn an toàn và khỏe mạnh. Hơn thế, nhờ Dữu Cổn cố công chăm sóc mà người anh trai đã hoàn toàn khỏi bệnh.

Những người lớn tuổi trong làng ngạc nhiên thốt lên: “Đứa trẻ này thật kỳ lạ! Nó có thể bảo vệ những người mà không ai dám bảo vệ, làm những việc mà mọi người không dám làm. Đúng là tới mùa lạnh mới biết được sự kiên cường của cây tùng cây bách”.

Người ta mới hiểu được rằng ôn dịch hung dữ không lây truyền đến tất cả mọi người. Trước đại nạn, những người không sợ sống chết, nhất mực bảo vệ người khác thì tự khắc Trời sẽ mở cho anh ta một lối thoát.

Cao tăng cầu nguyện cho tuyết rơi giữa mùa hè để ngăn chặn bệnh dịch

Nhà Thanh, năm Quang Tự thứ 26 (năm 1900), 8 nước Đồng minh đã đánh vào Bắc Kinh. Kinh thành đại loạn khiến Từ Hy thái hậu cùng hoàng đế Quang Tự và các quần thần phải chạy đến Trường An (nay thuộc Tây An). Khánh thân vương Dịch Khuông nghe tin Hư Vân hòa thượng là cao tăng đắc đạo liền thỉnh mời ông đến bảo vệ nhà vua trên đường lánh nạn.

Khi đó, đại dịch đang hoành hành ở Trường An và cướp đi sinh mệnh của vô số người. Mùa hè tháng 8 nắng nóng gay gắt, thi thể người chết thối rữa la liệt khắp nơi, mùi hôi thối và chết chóc bủa vây toàn Trường An.

Hư Vân hòa thượng chứng kiến cảnh tượng ấy vô cùng thương xót chúng sinh, nên phát nguyện tổ chức một đại lễ cầu tuyết, cầu xin ông trời cho tuyết rơi để ngăn cản bệnh dịch. Cảm động trước uy đức của lão hòa thượng, hàng nghìn tăng nhân đã đến trước thiền tự Ngọa Long nguyện ý hết lòng tương trợ. Ở trên lễ đàn cao lớn, hòa thượng Hư Vân khoác áo cà sa tĩnh tọa ngày đêm một lòng cầu niệm trời ban tuyết xuống cứu chúng sinh thoát khỏi kiếp nạn.

Trời không phụ lòng người, quả nhiên đến ngày thứ 7 mây đen kéo đến. Buổi chiều đó xuất hiện một trận tuyết lớn. Tuy nhiên, Hư Vân hòa thượng vẫn không dừng lại ở đó. Để cầu nguyện cho hạn hán và bệnh dịch ở Thiểm Tây, Cam Túc và Ninh Hạ, ông đã ngồi đó suốt 7 ngày. Sau 7 ngày tuyết rơi, ngàn dặm trong ngoài thành Trường An đều được băng tuyết phủ kín.

Tấm lòng lương thiện chân thành của Hư Vân hòa thượng thực sự đã cảm động đến cả trời cao, nên trong mùa hè nóng bức lại xuất hiện kỳ tích xảy ra trận tuyết lớn cứu muôn dân thoát khỏi đợt đại dịch ở Trường An.

Hư Vân hòa thượng. (Ảnh: Dharmawheel)

Lòng hiếu thảo cảm động trời xanh xua đi dịch bệnh

Vào thời vua Thuận Trị (nhà Thanh) có một bệnh dịch lớn hoành hành ở thành phố Tấn Lăng. Bệnh dịch hung dữ đã lây lan nhanh chóng. Nhiều gia đình đã bị xóa sổ toàn bộ. Bệnh dịch khiến người ta trở nên lạnh lùng và sợ hãi. Vào thời điểm đó, ngay cả các thành viên trong gia đình cũng không dám đến thăm hỏi nhau và chia buồn.

Có một gia đình họ Cố ở phía đông thành phố. Chủ nhà là Hữu Thành, có con dâu tên Tiền Thị. Khi Tiền Thị vừa mới trở về nhà mẹ đẻ, Cố Thành đã nhiễm dịch bệnh. Sau đó, cả vợ ông và tám người trong nhà đều nhiễm bệnh. Tất cả không còn cách nào khác ngoài việc chờ đợi tử thần. Tiền Thị nghe tin gia đình chồng bị nhiễm bệnh, vội vã muốn trở về chăm sóc. Cha mẹ cô đã cố gắng ngăn cản nhưng Tiền Thị nói rằng: “Chồng cưới vợ về, nguyên là để chăm lo chuyện đại sự sống chết của cha mẹ chồng và người thân. Bây giờ, cha mẹ chồng của con đều bị bệnh, con không thể nhẫn tâm bỏ đi. Con làm vậy có khác gì thú vật? Sau khi con đi, nếu con có chết, cũng sẽ không dám mong được cha mẹ chiếu cố”. Nói xong Tiền Thị đi về nhà chồng một mình.

Lúc này, có một chuyện kỳ lạ đã xảy ra.

Vào ban ngày, gia đình Cố Thành nghe thấy những con ma nói với nhau: “Chư Thần đang bảo vệ người phụ nữ hiếu thảo! Nếu chúng ta không mau tránh nó, chúng ta sẽ bị trách tội!”. Sau khi Tiền Thị trở về nhà, cô chăm sóc cẩn thận 8 người trong gia đình họ Cố. Họ dần dần bình phục và sau đó tất cả đều sống sót.

***

Trong những giờ phút nguy hiểm cận kề, nhiều người sẵn sàng xả bỏ sinh mệnh của mình vì việc đại nghĩa. Đó là tấm lòng có thể cảm động đến cả quỷ Thần. Đại dịch hoành hành âu cũng là số kiếp mà Trời định ra để trừng phạt những tội lỗi của con người. Những kẻ đại ác, những người có tội sẽ phải chịu nghiệp quả tương ứng. Chỉ có người thiện lương, luôn mang chân tâm, lòng thiện và đức nhẫn nại cao thượng mới có thể bước ra ngoài lưới Trời trừng phạt. Thực đúng là:

‘Ở hiền thì sẽ gặp lành
Ai mà nhân đức Trời dành phúc cho’.

Yên Tử
Theo epochweekly

 

Ở hiền thì sẽ gặp lành, ai mà nhân đức Trời dành phúc cho

Đại dịch hạch đã tiêu diệt Đế chế La Mã nhưng dường như nó không nhắm vào tất cả mọi người. Trong quan niệm văn hóa truyền thống Á Đông cũng có khái niệm gọi là “Ôn Thần”. Nếu như gặp người sống thiện lành thì Ôn Thần sẽ mở một lối thoát cho người đó trong kiếp nạn…

Ai là người có thể thoát khỏi dịch bệnh?

Bao quanh Địa Trung Hải từng có một siêu cường quốc kéo dài khắp Châu Âu, Châu Á và Châu Phi, chính là Đế chế La Mã. Nhưng Đế chế hùng mạnh này cuối cùng đã rời khỏi vũ đài lịch sử dưới sự tấn công của bốn dịch bệnh lớn. Đại ôn dịch mạnh đến mức nào mà có thể tiêu diệt cả Đế chế La Mã cường thịnh?

Nhà sử học I-va Griels mô tả về bệnh dịch hạch ở đây rằng: “Sẽ có một số người bắt đầu phát bệnh, mắt sẽ bị xung huyết, khuôn mặt bị sưng và sau đó là cổ họng bị đau khó chịu, và sau đó những người này sẽ vĩnh viễn biến mất trong đám đông. Một số người bị viêm tuyến bẹn, chảy mủ ra nên gây sốt cao. Những người này sẽ chết trong hai hoặc ba ngày”.

Bệnh dịch hoành hành, toàn bộ thành phố La Mã sực lên mùi thối rữa của xác chết ở khắp mọi nơi. Mặc dù bệnh dịch đã phá hủy một đế chế khổng lồ, hủy diệt hàng chục triệu sinh mạng nhưng có một số người đã không phải chịu bất kỳ tổn hại nào. Theo I-va Griels, “Một số người thậm chí là sống cùng với những người bị nhiễm bệnh và tiếp xúc với người đã chết, nhưng họ vẫn hoàn toàn không bị lây nhiễm”.

Bệnh dịch hoành hành đã khiến cả Đế chế La Mã hùng mạnh bị diệt vong. (Ảnh: wikipedia.org)

Bệnh dịch lớn khiến tất cả sợ hãi bàn tán dường như không nhắm vào tất cả mọi người. Theo như cách gọi dân gian của người Á Đông, liệu đó có phải là “Ôn Thần”, có phải nếu ôn dịch xem xét người nào trong sạch thì sẽ tha cho người đó? Giả sử ai đó có thể thoát khỏi bệnh dịch, họ sẽ phải là người thế nào?

Những câu chuyện dưới đây có thể phần nào giúp chúng ta có câu trả lời chăng?…

Dữu Cổn không bỏ rơi anh trai bị nhiễm bệnh

Ở triều nhà Tấn (Trung Hoa), có một ẩn sĩ tên là Dữu Cổn là chú Tấn Minh đế. Khi còn trẻ, ông nổi tiếng là siêng năng, chăm học và hiếu thảo. Thời Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm, niên hiệu Hàm Ninh (275 – 280), đại ôn dịch đã nổ ra. Hai anh trai của Dữu Cổn không may nhiễm bệnh mà chết, còn lại một người anh nữa cũng đổ bệnh.

Khi bệnh dịch ngày càng trở nên nghiêm trọng và khí bệnh tràn ngập khắp nơi, bố mẹ Dữu Cổn muốn đưa ông và các em trai ra ngoài để lánh nạn. Tuy nhiên, Dữu Cổn không chịu rời xa anh trai mình. Người thân và bạn bè đã buộc phải kéo ông đi. Dù vậy, Dữu Cổn vẫn khăng khăng ôm lấy người anh trai bị bệnh mà nói: “Ta sinh ra vốn không sợ bệnh dịch”.

Người thân và bạn bè không có cách nào thuyết phục ông rời xa anh trai mình. Sau khi họ rời đi, Dữu Cổn thức suốt đêm ân cần chăm sóc anh trai, có lúc ôm lấy anh trai mà chảy nước mắt than khóc.

Thời gian trôi nhanh, sau hơn một trăm ngày, bệnh dịch đã dần lắng xuống. Khi những người thân trở về làng, họ rất ngạc nhiên khi thấy Dữu Cổn đã ở cùng anh trai từ sớm đến tối mà vẫn an toàn và khỏe mạnh. Hơn thế, nhờ Dữu Cổn cố công chăm sóc mà người anh trai đã hoàn toàn khỏi bệnh.

Những người lớn tuổi trong làng ngạc nhiên thốt lên: “Đứa trẻ này thật kỳ lạ! Nó có thể bảo vệ những người mà không ai dám bảo vệ, làm những việc mà mọi người không dám làm. Đúng là tới mùa lạnh mới biết được sự kiên cường của cây tùng cây bách”.

Người ta mới hiểu được rằng ôn dịch hung dữ không lây truyền đến tất cả mọi người. Trước đại nạn, những người không sợ sống chết, nhất mực bảo vệ người khác thì tự khắc Trời sẽ mở cho anh ta một lối thoát.

Cao tăng cầu nguyện cho tuyết rơi giữa mùa hè để ngăn chặn bệnh dịch

Nhà Thanh, năm Quang Tự thứ 26 (năm 1900), 8 nước Đồng minh đã đánh vào Bắc Kinh. Kinh thành đại loạn khiến Từ Hy thái hậu cùng hoàng đế Quang Tự và các quần thần phải chạy đến Trường An (nay thuộc Tây An). Khánh thân vương Dịch Khuông nghe tin Hư Vân hòa thượng là cao tăng đắc đạo liền thỉnh mời ông đến bảo vệ nhà vua trên đường lánh nạn.

Khi đó, đại dịch đang hoành hành ở Trường An và cướp đi sinh mệnh của vô số người. Mùa hè tháng 8 nắng nóng gay gắt, thi thể người chết thối rữa la liệt khắp nơi, mùi hôi thối và chết chóc bủa vây toàn Trường An.

Hư Vân hòa thượng chứng kiến cảnh tượng ấy vô cùng thương xót chúng sinh, nên phát nguyện tổ chức một đại lễ cầu tuyết, cầu xin ông trời cho tuyết rơi để ngăn cản bệnh dịch. Cảm động trước uy đức của lão hòa thượng, hàng nghìn tăng nhân đã đến trước thiền tự Ngọa Long nguyện ý hết lòng tương trợ. Ở trên lễ đàn cao lớn, hòa thượng Hư Vân khoác áo cà sa tĩnh tọa ngày đêm một lòng cầu niệm trời ban tuyết xuống cứu chúng sinh thoát khỏi kiếp nạn.

Trời không phụ lòng người, quả nhiên đến ngày thứ 7 mây đen kéo đến. Buổi chiều đó xuất hiện một trận tuyết lớn. Tuy nhiên, Hư Vân hòa thượng vẫn không dừng lại ở đó. Để cầu nguyện cho hạn hán và bệnh dịch ở Thiểm Tây, Cam Túc và Ninh Hạ, ông đã ngồi đó suốt 7 ngày. Sau 7 ngày tuyết rơi, ngàn dặm trong ngoài thành Trường An đều được băng tuyết phủ kín.

Tấm lòng lương thiện chân thành của Hư Vân hòa thượng thực sự đã cảm động đến cả trời cao, nên trong mùa hè nóng bức lại xuất hiện kỳ tích xảy ra trận tuyết lớn cứu muôn dân thoát khỏi đợt đại dịch ở Trường An.

Hư Vân hòa thượng. (Ảnh: Dharmawheel)

Lòng hiếu thảo cảm động trời xanh xua đi dịch bệnh

Vào thời vua Thuận Trị (nhà Thanh) có một bệnh dịch lớn hoành hành ở thành phố Tấn Lăng. Bệnh dịch hung dữ đã lây lan nhanh chóng. Nhiều gia đình đã bị xóa sổ toàn bộ. Bệnh dịch khiến người ta trở nên lạnh lùng và sợ hãi. Vào thời điểm đó, ngay cả các thành viên trong gia đình cũng không dám đến thăm hỏi nhau và chia buồn.

Có một gia đình họ Cố ở phía đông thành phố. Chủ nhà là Hữu Thành, có con dâu tên Tiền Thị. Khi Tiền Thị vừa mới trở về nhà mẹ đẻ, Cố Thành đã nhiễm dịch bệnh. Sau đó, cả vợ ông và tám người trong nhà đều nhiễm bệnh. Tất cả không còn cách nào khác ngoài việc chờ đợi tử thần. Tiền Thị nghe tin gia đình chồng bị nhiễm bệnh, vội vã muốn trở về chăm sóc. Cha mẹ cô đã cố gắng ngăn cản nhưng Tiền Thị nói rằng: “Chồng cưới vợ về, nguyên là để chăm lo chuyện đại sự sống chết của cha mẹ chồng và người thân. Bây giờ, cha mẹ chồng của con đều bị bệnh, con không thể nhẫn tâm bỏ đi. Con làm vậy có khác gì thú vật? Sau khi con đi, nếu con có chết, cũng sẽ không dám mong được cha mẹ chiếu cố”. Nói xong Tiền Thị đi về nhà chồng một mình.

Lúc này, có một chuyện kỳ lạ đã xảy ra.

Vào ban ngày, gia đình Cố Thành nghe thấy những con ma nói với nhau: “Chư Thần đang bảo vệ người phụ nữ hiếu thảo! Nếu chúng ta không mau tránh nó, chúng ta sẽ bị trách tội!”. Sau khi Tiền Thị trở về nhà, cô chăm sóc cẩn thận 8 người trong gia đình họ Cố. Họ dần dần bình phục và sau đó tất cả đều sống sót.

***

Trong những giờ phút nguy hiểm cận kề, nhiều người sẵn sàng xả bỏ sinh mệnh của mình vì việc đại nghĩa. Đó là tấm lòng có thể cảm động đến cả quỷ Thần. Đại dịch hoành hành âu cũng là số kiếp mà Trời định ra để trừng phạt những tội lỗi của con người. Những kẻ đại ác, những người có tội sẽ phải chịu nghiệp quả tương ứng. Chỉ có người thiện lương, luôn mang chân tâm, lòng thiện và đức nhẫn nại cao thượng mới có thể bước ra ngoài lưới Trời trừng phạt. Thực đúng là:

‘Ở hiền thì sẽ gặp lành
Ai mà nhân đức Trời dành phúc cho’.

Yên Tử
Theo epochweekly

 

Nguồn gốc món ăn dược phẩm dâng Phật, Hoàng Đế cũng trân trọng

Cháo là món ăn dễ nấu, dinh dưỡng phong phú và dễ tiêu hóa, dù ngọt hay mặn đều được, thích hợp cho bữa sáng và ăn khuya. Đây là món ăn truyền thống bình dân của người Châu Á. Không những vậy đây còn là bài thuốc trị bệnh hiệu quả của Đông y.

Từ cổ xưa tới nay, mọi người đều biết đây là món ăn giàu dinh dưỡng và tốt nhất cho sức khỏe. Theo Phổ tế phương, Mặc dù cháo là thức ăn đơn giản được nấu từ gạo, nhưng lại như một nguồn sống, là chế độ ăn uống có công dụng trị bệnh khi dùng thuốc. Công thức nấu cháo cũng có những thay đổi sáng tạo vô tận, có thể bổ sung thêm các loại đậu, rau xanh, thịt, thậm chí các loại  quả… từ đó đạt được hiệu quả bổ dưỡng khác nhau.

Nguồn gốc của cháo

Ảnh: Shutterstock

Ngược dòng tìm hiểu ghi chép về nguồn gốc của món ăn bổ dưỡng này, có thể xuất hiện khoảng từ năm 2697 – 2597 TCN. Tương truyền, khi đó Hoàng Đế đã rất trân trọng dùng hạt ngũ cốc nấu thành cháo. Trong Thương Hàn Tạp Bệnh Luận của thánh y Trương Trọng Cảnh, công dụng trị liệu của cháo cũng được miêu tả rất tỉ mỉ. Nói đến cháo, đối với những người Phật Giáo là phải nhắc đến một chi tiết nhỏ nhưng vô cùng quan trọng vào thời kỳ bình minh của Phật Giáo.

Ngày 8/12 âm lịch hằng năm là lễ hội cháo Laba (còn được gọi là Ngày bồ đề). Đây là ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dưới cội bồ đề khai công khai ngộ. Tương truyền, khi Đức Phật nhập định tu hành dưới cội bồ đề 49 ngày, không ăn uống, từng có một tín đồ tên Sujata dùng trái cây và ngũ cốc nấu cháo dâng lên Phật Đà. Để kỷ niệm ngày Đức Phật khai ngộ, hằng năm vào ngày này, các ngôi chùa Phật giáo đều nấu cháo dâng Phật và phân phát cho khách thập phương. Có lẽ bát cháo đã giúp sức cho Ngài và nó đã trở thành món ăn quan trọng trong tăng đoàn, được xem như là một thứ dược phẩm và thường được Đức Phật nhắc đến trong kinh điển.

5 lợi ích của cháo

Ảnh: kknews.cc/ The Epoch Time

1. Cháo có thể điều chỉnh khẩu vị và kích thích thèm ăn

Cháo có hương vị ngon và lành, thanh đạm và dễ ăn, đặc biệt thích hợp cho những người chán ăn hoặc mệt mỏi.

2. Cháo có thể kiện Tỳ ích Vị, dưỡng âm và sinh tân

Ăn cháo có thể nuôi dưỡng Tỳ Vị, nhuận Vị khí, dưỡng âm sinh tân, nhu dưỡng xương cốt tứ chi. Cháo nhỏ mịn vị ngọt và dễ tiêu hóa, hỗ trợ mang lại đầy đủ dinh dưỡng và hồi phục thể lực cho cơ thể. Khi mệt mỏi hoặc già yếu, cháo là lựa chọn tốt nhất, giúp cơ thể nhanh chóng bổ sung năng lượng và tăng cường thể lực.

3. Cháo có thể thúc đẩy cơ thể đổ mồ hôi và giải độc

Cháo nóng có thể tiếp thêm sinh lực, làm ấm cơ thể, giúp toát mồ hôi và loại bỏ tà khí thâm nhập cơ thể ra bên ngoài. Thực tế, nhiều nghiên cứu cho thấy, ăn cháo để hỗ trợ giúp cơ thể đổ mồ hôi là một cách giải độc lành mạnh và hiệu quả, đặc biệt phù hợp với những người bị cảm lạnh.

4. Cháo có thể tăng cường hiệu quả trị liệu của thảo dược

Thánh y Trương Trọng Cảnh từng đề cập, sau khi uống thuốc, căn cứ vào tình trạng bệnh nhân mà ăn bổ sung cháo nóng hoặc nguội… để hỗ trợ tác dụng của thuốc. Ví dụ trong khi dùng Thập táo thang, bệnh nhân cần dùng cháo kê để bồi bổ. Nguyên nhân vì Thập táo thang dược lý rất mạnh, dễ tổn thương Vị khí; khi Vị khí tổn thương, những tạng phủ khác cũng theo đó mà ảnh hưởng, từ đó bất lợi cho quá trình hồi phục bệnh. Ăn cháo vào lúc này có thể hỗ trợ dưỡng Vị khí, giúp thuốc phát huy hiệu quả tốt hơn.

5. Cháo là món ăn đầu tiên nên cho vào thực đơn bữa sáng

Bởi vì nó có thể thúc đẩy tuần hoàn lưu thông năng lượng trong cơ thể. Sáng sớm sau khi tỉnh giấc, thân thể của chúng ta cũng dần dần tỉnh lại, một bát cháo ấm có thể giúp cung cấp đủ nhiệt lượng cho cơ thể, từ đó thúc đẩy khí Tỳ Vị trở nên ấm áp, và đưa tinh chất của ngũ cốc nuôi dưỡng toàn thân, thúc đẩy năng lượng cơ thể lưu thông tuần hoàn.

Cháo làm từ các loại ngũ cốc và nguyên liệu khác nhau có tác dụng chữa bệnh khác nhau. Bác sĩ Đông y Hồ Nãi Văn tới từ phòng khám Đông y Đồng Đức Đường, Thượng Hải, Đài Bắc chia sẻ, trong Bản thảo cương mục có ghi chép, cháo nấu từ các loại ngũ cốc có công dụng hỗ trợ trị chứng Tỳ Vị hư hàn, cháo nấu từ lúa mì có tác dụng hỗ trợ trị tiêu chảy. Cháo nấu từ gạo nếp, gạo cao lương, hạt kê có tác dụng lợi tiểu. Cháo nấu từ gạo tẻ, ngô, gạo giống nhật japonica… có tác dụng hỗ trợ loại bỏ phiền muộn. Có những loại khác, một số là cháo nấu từ ngũ cốc, các loại rau, các loại thịt ví dụ cháo đậu đỏ, cháo đậu xanh, cháo rau bina, cháo rau tỏi tây, cháo cần tây, cháo rau quỳ… đều có hiệu quả hỗ trợ trị bệnh khác nhau.

Mặc dù cháo tốt cho sức khỏe, nhưng nên ăn đúng cách. Đối với bệnh nhân bị đầy hơi, trào ngược dạ dày thực quản, ăn cháo có thể làm triệu chứng càng tồi tệ hơn. Ngoài ra, nếu ăn cháo để bồi bổ thân thể, nên căn cứ vào thể trạng thực tế để lựa chọn loại phù hợp, chẳng hạn hội chứng cảm hàn phù hợp với các loại cháo có tính ôn, hội chứng nhiệt thích hợp với các loại cháo lạnh…

Học cách nấu cháo dưỡng sinh đơn giản cho bữa sáng

(Ảnh: kknews.cc)

Thành phần:

Đậu xanh 50g, đậu lăng (có thể thay thế bằng đậu trắng hạt to) 50g, hạt sen 50g, lúa mạch 50g, Đại táo 30g, Kỷ tử 10g, (nguyên liệu này dùng cho 1 người chia ra ăn trong 5 ngày).

Hoàng kỳ 250g để nấu lấy nước.

Cách thực hiện:

Đun Hoàng kỳ trong 15 phút, rót nước đã đun ra bát, tiếp tục thay nước khác đun tiếp 15 phút để chắt lấy nước lần 2. Lấy nước dùng từ 2 lần đun trên để nấu cháo thay cho nước trắng thông thường.

Rửa sạch và ngâm các loại hạt trên và nấu chín trong vòng khoảng 40 phút. Đun nhỏ lửa cho đến khi các loại hạt chín mềm. Khi các thành phần trên đã chín thì cho quả Kỷ tử vào đun thêm 10 phút. Không nên nấu Kỷ tử lâu vì sẽ làm hỏng món ăn, mất tác dụng tốt nhất của nguyên liệu. Nấu chín và ăn khi cháo nóng ấm, mỗi ngày ăn 1 lần vào bữa sáng hoặc bữa phụ trong ngày.

Tác dụng:

Món cháo này có sự khác biệt so với các món cháo khác chính là nước nấu cháo có thành phần Hoàng kỳ.

  • Hoàng kỳ là 1 trong 5 dược liệu tốt nhất trong Đông y được các thầy thuốc vô cùng ưu ái. Dược liệu này không chỉ có tác dụng bổ khí rất rõ rệt mà còn nâng cao khả năng miễn dịch, sức đề kháng, giảm mệt mỏi, chống lão hóa. Không những thế, Y học hiện đại nghiên cứu cho thấy dược liệu này có chứa nhiều selen, có khả năng phòng chống ung thư hiệu quả.
  • Đậu xanh có tác dụng chữa nhiều bệnh quan trọng như giải độc, làm mát cơ thể, bổ sung dinh dưỡng. Trong khi đậu trắng lại giải nhiệt tốt, hạn chế các bệnh về dạ dày, chán ăn, tiêu chảy phân lỏng, tiết dịch âm đạo quá nhiều, nôn mửa, đau thắt ngực, đầy bụng.
  • Hạt sen là món quà quý từ thiên nhiên, có vị ngọt, bổ Tâm, Tỳ, Thận; tránh tiêu chảy, an thần, chữa mất ngủ, giảm tiêu chảy mãn tính, thải khí hư, tim đập nhanh…
  • Lúa mạch có tác dụng lợi tiểu, dễ tiêu hóa, cân bằng lá lách, giảm nhiệt, dễ hấp thụ vào cơ thể, giải tỏa mệt mỏi, chán ăn, bất kỳ ai cũng có thể ăn để tăng cường và bổ sung dinh dưỡng.
  • Đại táo vốn là một vị thuốc bổ trong Đông y, nuôi dưỡng các dây thần kinh, có vai trò lớn tác động tới Tỳ và Vị. Khi các bộ phận này suy nhược, thiếu máu, mệt mỏi, mất ngủ và các bệnh khác xuất hiện, Đại táo sẽ là vị “cứu tinh” tiện lợi.

Theo Đại Kỷ Nguyên tiếng Trung

 

 

Đọc nhiều

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài. Trong kiếp nhân sinh này, mỗi người đều có sự lựa...

Có gì ở bệnh viện đa khoa quốc tế hơn 20.000 m2 mới khai...

Vừa qua, tại Hà Nội có thêm một bệnh viện đa khoa quốc tế hiện đại đi vào hoạt động. Chỉ sau một thời...

Cập nhật dịch COVID-19 sáng 2/3: Số người tử vong trên thế giới tăng...

Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc (NHC) hôm nay (2/3) thông báo có thêm 42 ca tử vong vì COVID-19 trong ngày...

Mặc tin đồn hẹn hò ‘bủa vây’, Bích Phương diện đồ gợi cảm dự...

Bích Phương vô cùng quyến rũ trong tiệc sinh nhật của "soái ca" Đăng Khoa. Lẻ bóng “lâu năm”, dường như các fan hâm mộ...