Phật học

Quả báo của nghiệp hành hạ súc vật

Oan nghiệp này tuy chúng ta không thấy nhưng oán khí ngút ngàn kết hợp cùng với ba ác nghiệp của người hành hạ súc vật (thân, miệng, ý ác) đã tạo ra quả báo ác nặng nề.

Súc vật, nhất là những vật nuôi để trợ giúp cho con người trong lao động sản xuất như trâu bò vốn được nông dân thương quý, xem như thành viên của gia đình. Từ bao đời nay, trâu bò đã giúp con người làm các việc nặng nhọc như cày bừa, kéo xe và một số việc khác. Khi chúng bị bệnh mà chết hay vì một hoàn cảnh nào đó phải bán đi thì khá nhiều người chủ đã rơi nước mắt xót xa, thương cảm. Tuy vậy, có một số chủ nhân thì chẳng những không thương mà còn hành hạ chúng dã man, đánh đập chúng thậm tệ.

Loài vật tuy không chống cự lại được con người nhưng chúng cũng biết phản kháng, vùng vẫy, nhất là cũng đau đớn và oán hận khi bị áp bức, tra tấn, hành hạ. Oan nghiệp này tuy chúng ta không thấy nhưng oán khí ngút ngàn kết hợp cùng với ba ác nghiệp của người hành hạ súc vật (thân, miệng, ý ác) đã tạo ra quả báo ác nặng nề.

Vì nuôi dưỡng tâm từ, vì tôn trọng sự sống bình đẳng của mọi loài, vì sợ nghiệp quả giết hại nặng nề nên người Phật tử nguyện không làm tổn hại các loài vật, không bảo người khác bức hại, thấy người khác có hành vi giết hại không cổ xúy, chẳng vui mừng.
Vì nuôi dưỡng tâm từ, vì tôn trọng sự sống bình đẳng của mọi loài, vì sợ nghiệp quả giết hại nặng nề nên người Phật tử nguyện không làm tổn hại các loài vật, không bảo người khác bức hại, thấy người khác có hành vi giết hại không cổ xúy, chẳng vui mừng.

Vì sao không nên sát sinh?

“Một thời, Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ… cho đến Tôn giả Mục-kiền-liên nói, ở giữa đường ta thấy một chúng sanh to lớn, mang trên cổ chiếc xe sắt đang cháy, bị chặt đứt gân cổ, tiếp đến chân tay, gân quấn quanh cổ họ, đi trên đất sắt nóng, đi giữa hư không, khóc lóc kêu gào… cho đến Phật bảo các Tỳ-kheo:

Chúng sanh này, thời quá khứ, ở nước Xá-vệ, đánh xe bò để sanh sống. Vì tội này nên đọa vào địa ngục chịu khổ vô lượng. Nay vì dư báo địa ngục nên nó phải mang cái thân này, tiếp tục chịu khổ.

Này các Tỳ-kheo, như những gì Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đã thấy là chân thật không sai. Các ông cần nên ghi nhớ.

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành”.

(Kinh Tạp A-hàm, kinh số 531)

Hiện nhân loại đã văn minh, súc quyền ở một số nơi đã thành luật nhưng vẫn còn không ít người có hành vi bạc đãi, hành hạ, giết hại thú vật bừa bãi. Có thể phát xuất từ quan niệm ‘vật dưỡng nhơn’, đấng sáng tạo đã tạo ra loài vật để phục vụ loài người nên họ có toàn quyền sinh sát loài vật. Khi một người có hành vi hành hạ thú vật, có thể thấy rõ tâm từ bi của người ấy đã chai sạn. Khi họ xuống tay giết hại các vật nuôi một cách tàn độc, man rợ, vô tội vạ có thể thấy nơi đó dấu tích của sự dã man.

Đạo Phật không cho phép tín đồ cố ý giết hại các loài sinh vật. Vì nuôi dưỡng tâm từ, vì tôn trọng sự sống bình đẳng của mọi loài, vì sợ nghiệp quả giết hại nặng nề nên người Phật tử nguyện không làm tổn hại các loài vật, không bảo người khác bức hại, thấy người khác có hành vi giết hại không cổ xúy, chẳng vui mừng. Người nào hành hạ súc vật thì tạo ác nghiệp nặng nề. Như người đánh xe bò tàn ác ở trong kinh bị quả báo mà Thế Tôn đã xác chứng là do làm nghề đánh xe bò, hành hạ súc vật.

Thế nên, người Phật tử luôn nuôi dưỡng tâm từ, nguyện thương yêu tất cả vạn loại chúng sinh. Quán chiếu sâu sắc đến nghiệp báo ác địa ngục, ngạ quỷ để không làm tổn hại súc vật. Mọi chúng sinh đều có sự sống, đều tham sống sợ chết, đều khổ đau khi bị hành hạ. Điều gì mình không muốn thì loài vật cũng không muốn. Yêu thương muôn loài là nhân lành của phước báo sống lâu, khỏe mạnh, không gặp các hiểm nạn, hạnh phúc an vui.

Hạnh phúc và hạnh phúc thực sự theo quan điểm Phật giáo

Có một cuộc sống hạnh phúc là ước mơ của tất cả mọi người. Tuy nhiên, ý nghĩa hạnh phúc tùy thuộc vào trình độ nhận thức hay quan điểm về cuộc sống của mỗi cá nhân. Do đó, ý nghĩa hạnh phúc thật là đa dạng và khác biệt.

Theo Phật giáo, mặc dầu có nhiều quan điểm hạnh phúc khác nhau, nhưng tất cả không ngoài hai phạm trù: hạnh phúc từ kinh nghiệm và cảm thọ giác quan trong cuộc sống (sense pleasures), như có được tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng, tiện nghi, v.v.; và hạnh phúc về tinh thần (mental happiness), như tâm được vui mừng và an lạc.(2) Sự xuất hiện của Đức Phật ở thế gian và nội dung giáo lý Phật giáo không ngoài mục tiêu đem lại an lạc, hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Nội dung giáo lý này là Tứ diệu đế (Cattāri Ariya-saccāni, The Four Noble Truths) bao gồm: dukkha (khổ), nguyên nhân của dukkha, sự đoạn tận dukkha, và phương pháp đem đến sự đoạn tận dukkha.

Trong các kinh Nikāya, Đức Phật thường khuyên các đệ tử truyền bá nội dung này “Vì lòng thương cuộc đời và vì an lạc, hạnh phúc cho chư thiên và loài người, các ngươi nên truyền bá giáo pháp khắp mọi nơi”. Vậy hạnh phúc theo quan điểm của Phật giáo là như thế nào, và bằng vào phương pháp nào để đạt được hạnh phúc đó? Quan trọng hơn, Phật giáo cho rằng mọi hiện hữu là vô thường, như thế, hạnh phúc mà con người có được trong bất cứ hình thức nào – vật chất hay tinh thần – đều bị chi phối bởi luật vô thường. Vậy thì hạnh phúc thực sự theo quan điểm Phật giáo là gì? Bài viết này cố gắng trả lời những câu hỏi trên qua ý nghĩa kinh Hạnh phúc người tại gia và kinh Điềm lành.

Hạnh phúc và hạnh phúc thực sự theo quan điểm Phật giáo ảnh 1
Có một trường hợp ngoại lệ liên hệ đến hạnh phúc về tinh thần; đó là những chúng sinh đạt được một trong bốn tầng bậc của Tứ thiền (Dhyāna, trance)…

A. Hạnh phúc tương đối (Hạnh phúc bị chi phối bởi luật vô thường)

Ước mong của bản thân và gia đình được hạnh phúc là điều ước chung của con người trong bất cứ thời đại nào. Ý tưởng này được thể hiện qua lời hỏi của Dighajanu đến với Đức Phật trong kinh Hạnh phúc người tại gia: “Bạch Ngài, chúng con là những người cư sĩ tại gia, có vợ và con cái. Mong Ngài dạy bảo cho con được biết bằng cách nào để đời sống hiện tại và đời sau này con được hạnh phúc”. Khi đó Đức Phật dạy cho Dighajanu bốn điều cần phải làm để tạo cuộc sống hiện tại được hạnh phúc:

1. Phải có một nghề nghiệp giỏi, phải siêng năng và nhiệt thành trong nghề nghiệp của mình.

2. Phải bảo vệ nguồn thu nhập của mình đừng để bị thiên tai làm tổn hại, và trộm cắp lường gạt. Nguồn thu nhập phải hợp pháp.

3. Tránh xa bạn ác. Luôn cẩn thận và học hỏi với những người có đức hạnh và trí tuệ.

4. Chi tiêu phải phù hợp với thu nhập của mình, không tiêu pha lãng phí tiền bạc trong cờ bạc và tửu sắc.

Để tạo cho đời sống tương lai được hạnh phúc, Đức Phật khuyên Dighajanu phải thực hiện bốn điều sau đây:

1. Có niềm tin trọn vẹn về giá trị đạo đức và tâm linh (tức là có đức tin Tam bảo, Phật, Pháp, Tăng và tin luật nhân quả).

2. Thực hành năm điều đạo đức bằng cách không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không dùng những chất làm não loạn tâm trí như rượu và ma túy.

3. Bố thí và làm những công việc từ thiện.

4. Phát triển trí tuệ để thấy được bản chất vô thường của cuộc đời, và giúp đoạn tận khổ đau (dukkha).

Tương tự như nội dung những điều trên mà Đức Phật đã dạy cho Dighajuna, trong kinh Điềm lành, một vị Thiên tử đã hỏi Phật rằng bằng vào cách nào để các chúng sinh trong cõi người và trời được hạnh phúc. Đức Phật đã trả lời câu hỏi của vị Thiên tử qua những bài kệ sau:

Không thân cận kẻ ngu,

Nhưng gần gũi bậc trí,

Đảnh lễ người đáng lễ.

Là điềm lành tối thượng.

Ở trú xứ thích hợp,

Công đức trước đã làm,

Chân chánh hướng tự tâm,

Là điềm lành tối thượng.

Học nhiều nghề nghiệp giỏi,

Khéo huấn luyện học tập,

Nói những lời khéo nói,

Là điềm lành tối thượng.

Hiếu dưỡng với cha mẹ,

Nuôi nấng vợ và con,

Làm nghề không rắc rối,

Là điềm lành tối thượng.

Bố thí hành đúng pháp,

Săn sóc các bà con,

Làm nghiệp không lỗi lầm,

Là điềm lành tối thượng.

Chấm dứt từ bỏ ác,

Chế ngự đam mê rượu,

Trong Pháp, không phóng dật

Là điềm lành tối thượng (3)

Hạnh phúc và hạnh phúc thực sự theo quan điểm Phật giáo ảnh 2
Trong bốn điều cần phải thực hành để có một đời sống tương lai hạnh phúc, Đức Phật đã dạy cho Dighajanu biết tầm quan trọng của sự thiết lập niềm tin về giá trị đạo đức trong cuộc sống

Nhìn vào những điều Đức Phật dạy cho Dighajanu và những lời dạy của Ngài trong phần đầu của kinh Điềm lành, ta thấy cả hai cùng diễn đạt một nội dung về những phương pháp thực hành căn bản và thiết thực để xây dựng một đời sống hạnh phúc: có nghề nghiệp giỏi để kinh tế gia đình được ổn định; biết hiếu dưỡng cha mẹ và nuôi nấng vợ con, gia đình sẽ được hạnh phúc; thực hành bố thí thì kết quả có được cuộc sống giàu có; và thân cận với bạn lành giúp phát triển đạo đức và trí tuệ.

Điều quan trọng ở đây là, trong bốn điều cần phải thực hành để có một đời sống tương lai hạnh phúc, Đức Phật đã dạy cho Dighajanu biết tầm quan trọng của sự thiết lập niềm tin về giá trị đạo đức trong cuộc sống (điều 1). Theo Phật dạy, muốn có hạnh phúc trong đời sống, mỗi cá nhân phải xem giá trị đạo đức là hướng đi hay kim chỉ nam cho đời sống của mình; nếu không, cuộc sống sẽ không bao giờ có hạnh phúc. Ý nghĩa đạo đức mà Đức Phật dạy cho Dighajanu có thể hiểu qua hai cấp độ liên hệ; thứ nhất, đạo đức phổ biến (universal ethics), tức là năm giới hay năm điều cơ bản đạo đức (điều 2 và 3); và thứ hai, siêu đạo đức (super-ethics) là sự thanh lọc tâm tham, sân, si bằng trí tuệ để đoạn tận gốc rễ khổ đau và đạt hạnh phúc thực sự (điều 4). (Phần này sẽ được trình bày trong đoạn tiếp). Để thể hiện niềm tin vào giá trị đạo đức phổ biến, cả nhân loại phải thực hành năm điều đạo đức cơ bản: không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu.

Theo luật nhân quả trong Phật giáo, do tạo nhân lành qua sự thực hành năm giới, cá nhân sẽ có được kết quả tương ứng về một đời sống hạnh phúc: thân thể khỏe mạnh và sống lâu; cuộc sống được giàu có; gia đình được hạnh phúc; có một cuộc sống hài hòa trong tương quan với mọi người; và tâm luôn được minh mẫn. Đến đây, qua lời dạy của Đức Phật như được trình bày ở trên, chúng ta hiểu được thế nào là hạnh phúc và làm thế nào để đạt được nó. Ở đây cũng cần nhắc lại là ở phần đầu bài, hai phạm trù hạnh phúc đã được nêu lên, đó là hạnh phúc từ kinh nghiệm và cảm thọ trong đời sống của mỗi cá nhân (sense pleasures) và hạnh phúc về tinh thần (mental happiness). Ý nghĩa hạnh phúc mà Đức Phật dạy cho Dighajanu, cũng như ý nghĩa hạnh phúc được trình bày trong những phần đầu của kinh Điềm lành gồm hai phạm trù đó; nghĩa là sự vui mừng, và an lạc của cá nhân cùng tương quan sinh khởi với sự giàu có, gia đình hạnh phúc, sống lâu, khỏe mạnh, danh vọng, và tiện nghi, v.v…

Có một trường hợp ngoại lệ liên hệ đến hạnh phúc về tinh thần; đó là những chúng sinh đạt được một trong bốn tầng bậc của Tứ thiền (Dhyāna, trance).(4) Đối với những chúng sinh này, hạnh phúc về tinh thần không còn tùy thuộc vào kinh nghiệm và cảm thọ của các quan năng, mà thuần là sự sinh khởi từ tâm thức. Theo Phật giáo, hạnh phúc từ kinh nghiệm và cảm thọ thế giới bên ngoài hay hạnh phúc về tinh thần – dù tinh thần ở mức độ cao như ở Tứ thiền – tất cả đều bị chi phối bởi luật vô thường. Do vậy, loại hạnh phúc này được gọi là hạnh phúc tương đối.

Hạnh phúc và hạnh phúc thực sự theo quan điểm Phật giáo ảnh 3
Hạnh phúc thực sự theo quan điểm Phật giáo là sự chấm dứt khổ đau (dukkha)

B. Hạnh phúc thực sự

Hạnh phúc thực sự theo quan điểm Phật giáo là gì? Đó là sự chấm dứt khổ đau (dukkha) được giải thích như là Diệt đế (Nirodhā, P.) trong Tứ diệu đế; hay nói một cách rốt ráo, hạnh phúc thực sự là sự tự tại trong khổ đau, sầu muộn và sợ hãi. Chữ khổ hay dukkha nghĩa là không được xứng ý toại lòng (unsatisfactory). Trong giáo lý Tứ diệu đế, ngoài ý nghĩa chỉ rõ những kinh nghiệm khổ đau thường tình trong đời như sinh, lão, bệnh, tử, v.v…, ý nghĩa thâm sâu của khổ hay dukkha được cho là năm uẩn có tính chấp chặt hay bám víu (pañc’ upadanakkhandha, P. The five aggrevates of grasping), thông thường được diễn đạt trong từ Hán-Việt như “Ngũ uẩn thủ là khổ”. Trong trường hợp này, chữ “khổ” mang ý nghĩa không được toại ý được hiểu ở mức độ rộng hơn. Vì sao không được toại ý? Vì bản chất của ngũ uẩn hay bản chất của con người và cuộc đời là vô thường, nhưng ước muốn của con người là thường, do vậy khổ – Vô thường là khổ (yad aniccam tam dukkham, P.). Sự không được toại ý làm con người thất vọng và chịu những hệ quả sầu muộn, lo âu và sợ hãi. Khổ do không được toại ý hiện diện thường trực và chi phối đời sống con người – ngoại trừ những người đã giác ngộ.

Nhìn vào thực tế của đời sống, con người luôn luôn ước mong bản thân và những sở hữu yêu quý của bản thân như tiền bạc, danh vọng, tình yêu, tiện nghi, và những ý thức hệ, v.v… được trường tồn vĩnh cửu; nhưng cuộc đời là vô thường nên ước mong vĩnh cửu của con người không bao giờ hiện thực. Và hậu quả của sự ước mong không được như ý này làm cho người thất vọng, sợ hãi, sầu muộn và lo âu khi nghĩ đến hoặc khi mất đi những gì mình yêu quý đó.

Làm sao để đoạn trừ khổ đau, sợ hãi, lo âu và sầu muộn; hay nói cách khác, làm sao để đạt được hạnh phúc thực sự trong cuộc sống? Phương pháp mà Phật đã dạy cho Dighajanu là sự phát triển trí tuệ qua tu tập để đoạn tận khổ đau (điều 4), và đây chính là nội dung được Đức Phật dạy trong Đạo đế (Magga, P.) trong giáo lý Tứ đế. Mục đích của sự phát triển trí tuệ (Paññā, P.) là giúp cá nhân thấy được bản chất của ngũ uẩn hay bản chất của con người và cuộc đời là vô thường. Để phát triển trí tuệ, cá nhân phải thực hành giới (Sīla, P.) hay những đạo đức căn bản, và thực tập thiền định (meditation). Giới giúp cho phát triển định, và định giúp phát triển tuệ.

Thực tập thiền định trong Phật giáo đòi hỏi hai phần hỗ tương: tập trung tâm không để tán loạn – định (Samādhi, P. Concentration) và hướng tâm theo dõi và ghi nhận rõ ràng trên đối tượng – niệm (Sati, P. Mindfulness) và đối tượng này có thể là một trong bốn loại – thân, cảm thọ, tâm và pháp.(5) Do năng lực tập trung tâm để quan sát và ghi nhận rõ ràng trên đối tượng, hành giả trực nhận được tính bất ổn, biến chuyển hay vô thường của đối tượng. Khả năng trực nhận hay kinh nghiệm trực tiếp này, được gọi là tuệ (Paññā, P. Wisdom)(6).

Hạnh phúc và hạnh phúc thực sự theo quan điểm Phật giáo ảnh 4
Do trực nhận được tính vô thường của đối tượng, hành giả giải phóng ý niệm bám víu và mong cho những gì mình yêu thích được vĩnh cửu, và kết quả là khổ đau, thất vọng, sầu muộn và sợ hãi được đoạn trừ hoàn toàn…

Do trực nhận được tính vô thường của đối tượng, hành giả giải phóng ý niệm bám víu và mong cho những gì mình yêu thích được vĩnh cửu, và kết quả là khổ đau, thất vọng, sầu muộn và sợ hãi được đoạn trừ hoàn toàn. Điều quan trọng phải được nhấn mạnh ở đây là người thực chứng được cuộc đời vô thường, cũng phải sống như bao nhiêu người khác trong cuộc đời. Nghĩa là họ cũng phải làm việc, ăn uống, ngủ nghỉ và cần phải có các phương tiện để tạo cho cuộc sống được hạnh phúc. Tuy nhiên, họ chỉ xem những thứ đó như là phương tiện chứ không phải cứu cánh. Người đó có một cuộc sống tự chủ, không bị nô lệ bởi tiền bạc, danh vọng và những tiện nghi vật chất khác. Họ tự tại an nhiên trong vui buồn, vinh nhục và thăng trầm của cuộc sống. Đây chính là ý nghĩa hạnh phúc thực sự được hiểu như là sự tự tại trong khổ đau, sầu muộn và sợ hãi, được Đức Phật dạy ở những bài kệ cuối của kinh Điềm lành:

Khắc khổ và phạm hạnh,

Thấy được lý Thánh đế,

Giác ngộ quả: Niết-bàn,

Là điềm lành tối thượng.

Khi xúc chạm việc đời,

Tâm không sầu, không động,

Không uế nhiễm, an ổn

Là điềm lành tối thượng.

Ai sống được như thế,

Không chỗ nào thất bại,

Khắp nơi được an toàn

Những điềm lành tối thượng.

Người như vậy trong đạo Phật gọi là “người tỉnh thức” hay “người giác ngộ”. Do trực nhận hay giác ngộ được tính vô thường của con người và cuộc đời, tâm của vị ấy được tịnh hóa, không còn bị lòng tham và bám víu chi phối. Lòng tham và tính bám víu đồng nghĩa với vô minh, vị ngã và độc ác. Ngược lại với vô minh, vị ngã và độc ác, người giác ngộ có trí tuệ rốt ráo và lòng từ bi vô biên. Do lòng từ bi vô biên, người giác ngộ thấy được khổ đau của tất cả mọi chúng sinh như là khổ đau của chính mình, và nguyện cứu giúp tất cả; với trí tuệ rốt ráo, người giác ngộ thi thiết những phương tiện thiện xảo để đem lại hạnh phúc tương đối (như tiền bạc, danh vọng, hạnh phúc gia đình, tiện nghi vật chất, v.v…) cho chúng sinh và từ đó hướng dẫn chúng sinh thực tập giáo pháp để được hạnh phúc thực sự.

Sống an nhiên tự tại trong đời với tâm không bị tham lam bám víu chi phối, và làm tất cả mọi việc để lợi ích cho chúng sinh với động cơ của lòng từ bi là ý nghĩa “siêu đạo đức” trong Phật giáo. Đức Phật là người giác ngộ. Đại Trí Văn Thù Bồ-tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ-tát, Quán Thế Âm Bồ-tát, Địa Tạng Vương Bồ-tát, Phật hoàng Trần Nhân Tông, v.v…, là những người giác ngộ. Những vị này giúp chuyển hóa khổ đau của chúng sinh thành hạnh phúc và thế giới ô trược thành tịnh độ.

C. Kết luận

Qua hai bài kinh trên, ta thấy ngôn ngữ và cách diễn đạt trong kinh Hạnh phúc người tại gia rất cụ thể và thực tế với đời sống; trong khi đó, ngôn ngữ và cách diễn đạt trong kinh Điềm lành có nét văn chương và đậm tính triết lý. Đối tượng để Phật giảng trong kinh đầu là người – Dighajanu – trong khi đó, kinh sau là chư thiên. Ngoài những điểm khác biệt trên hình thức đó ra, hai bài kinh đều có nội dung thống nhất, chuyển tải quan điểm hạnh phúc trong Phật giáo; đó là, trong khi không phủ nhận giá trị hạnh phúc mà con người (và chư thiên) có được trong cuộc đời, Đức Phật dạy cho chúng ta biết rằng đó không phải là hạnh phúc thực sự. Hạnh phúc thực sự theo Phật dạy là sự trực nhận được hạnh phúc mà con người và chư thiên có được chỉ là tương đối (vô thường). Đây chính là ý nghĩa “Sinh tử tức Niết-bàn”, “Phiền não tức Bồ-đề” mà Phật giáo Đại thừa xem như là triết lý tu tập và phương thức hành đạo của Bồ-tát.

(1) Trong bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, đề mục của kinh là “Dighajanu, Người Koliya.”, chương 8, số 54 trong Tăng chi bộ kinh, trang điện tử: phatgiaonguyenthuy.com. Dựa trên nội dung của bài kinh, tôi chuyển đề mục thành đề “Kinh Hạnh phúc người tại gia”. Mục đích là giúp độc giả nghe thuận tai và dễ nhớ.

(2) “Phẩm Lạc,” chương II, phẩm VII, Tăng chi bộ kinh (Aṅguttara Nikāya); Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt, trang điện tử: phatgiaonguyenthuy.com

(3) “Kinh Điềm lành” (Mangala Sutta), Tiểu bộ kinh (Khuddhaka Nikāya). Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt, trang điện tử: phatgiaonguyenthuy.com

(4) Tứ thiền:

– Sơ thiền: Do tách rời lòng dục và những tâm lý bất thiện, tâm của hành giả được “hỷ” và “lạc” (rapture and happiness); tuy nhiên, tâm vẫn còn “tầm” và “tứ” (reflection and investigation).

– Nhị thiền: Do tâm được trở nên tập trung và tĩnh lặng, hành giả loại trừ được “tầm” và “tứ.” Hỷ và lạc vẫn còn.

– Tam thiền: Do nỗ lực an trú tâm trong tĩnh lặng, nên “hỷ” được đoạn trừ, và chỉ còn “lạc.”

– Tứ thiền: Tâm của hành giả được hoàn toàn tĩnh lặng (equanimity), vắng mặt những ý niệm thiện, ác, hạnh phúc hay khổ đau.

(5) “Kinh Niệm xứ,” số 10, Trung bộ kinh (Majjhima Nikāya). Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt, trang điện tử: phatgiaonguyenthuy.com. Đây là một trong những bài kinh đầy đủ và quan trọng nhất nói về thiền định, đặc biệt nhấn mạnh về sự phát triển Minh sát tuệ (Vipassanā, P. Insight). Trong kinh Đức Phật dạy, Tứ niệm xứ hay bốn lãnh vực gồm thân, thọ, tâm và pháp, mà hành giả cần để tâm chánh niệm là con đường trực tiếp dẫn đến giải thoát hay hạnh phúc thực sự.

(6) Trí tuệ trong Phật giáo bao gồm ba tầng bậc: nghe, nghĩ và thực hành (văn, tư, tu). Để đoạn tận khổ đau, sầu muộn, lo âu, hành giả phải thực hành (tuệ). Tuy nhiên, nghe và tư duy về vô thường hay bản chất tương đối của con người và cuộc đời sẽ giúp đoạn thiểu khổ đau, sầu muộn trong đời sống. Bởi tiến trình nghe pháp hay tụng kinh, ý nghĩa vô thường sẽ thẩm thấu vào tâm thức của mình và sẽ tạo nên một kháng lực mỗi khi chúng ta gặp những sự cố bất như ý trong cuộc sống. Từ đó, những khổ đau, sầu muộn sẽ được giảm thiểu một cách đáng kể. Đây là lý do tại sao các Phật tử phải nên nghe pháp và tụng kinh thường xuyên.

Kinh Bách Dụ: Người xuất gia tham lợi dưỡng

Thuở xưa, có vị quốc vương ban hành đạo luật: “Bất cứ người tu theo tôn giáo nào ở trong nước ta, đều phải tắm rửa sạch sẽ, nếu không sẽ bị phạt đòn và làm mọi việc khổ nhọc”.

Thuở xưa, có vị quốc vương ban hành đạo luật: “Bất cứ người tu theo tôn giáo nào ở trong nước ta, đều phải tắm rửa sạch sẽ, nếu không sẽ bị phạt đòn và làm mọi việc khổ nhọc”.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Bấy giờ, những tu sĩ Bà – la- môn đi đâu cũng mang bồn tắm theo, để mọi người ngỡ là họ siêng năng tắm rửa. Họ làm thế để tránh sự phạt lao dịch của nhà vua, chứ thật sự họ không thường xuyên tắm rửa. Có ai đổ nước vào bồn, họ đem đi nơi khác đổ rồi thầm nghĩ: “Nhà vua ban hành đạo luật ấy là để nhà vua tự tắm rửa sạch sẽ, chúng ta không cần tắm rửa làm gì”.

Lời bàn:

Mẩu chuyện này dụ cho người xuất gia cạo tóc nhuộm y, bên ngoài hiện tướng trì giới, mong cầu lợi dưỡng, tránh né mọi công việc, bên trong lại hủy phạm cấm giới. Không khác gì những người Bà – la – môn kia mang bồn tắm theo bên mình để lừa người mà thôi.

Người ta vui không phải vì sở hữu nhiều, mà nhờ tính toán ít

Có cơm để ăn, có nước để uống, có áo để mặc, có giường để ngủ, có núi để leo, có sách để đọc, có việc để làm, có đường để đi, có Xuân để đón, có người làm bạn chính là niềm hạnh phúc lớn nhất rồi!? Ta đang ”sở hữu” nhiều hạnh phúc lắm!

Vẻ ngoài đơn giản một chút thì nội tâm phong phú hơn, nhu cầu ít đi một chút thì tinh thần phong phú hơn, hoàn cảnh bình dị một chút thì không gian phong phú hơn. Trốn tránh chưa chắc đã thoát, đối mặt chưa chắc đã khổ.

Thay vì vắt óc nghĩ kế sao cho mình được lợi rốt cuộc cái không có chẳng lấy được, cái đang có cũng mất nốt, chẳng thà trân trọng những gì là của mình và quên đi thứ không thuộc về bản thân.

Ta đang ''sở hữu'' nhiều hạnh phúc lắm, vì mãi đi tìm hạnh phúc phiá trước nên ta không nhớ ra đó thôi!!

Ta đang ”sở hữu” nhiều hạnh phúc lắm, vì mãi đi tìm hạnh phúc phiá trước nên ta không nhớ ra đó thôi!!

Làm người, còn sống được là tốt.

Có cơm để ăn, có nước để uống, có áo để mặc, có giường để ngủ, có núi để leo, có sách để đọc, có việc để làm, có đường để đi, có Xuân để đón, có người làm bạn chính là niềm hạnh phúc lớn nhất rồi!? Ta đang ”sở hữu” nhiều hạnh phúc lắm, vì mãi đi tìm hạnh phúc phiá trước nên ta không nhớ ra đó thôi!!

Đề bài nào cũng có nhiều cách giải, vấn đề nào cũng có nhiều biện pháp xử lý, không đi đường này thì đi đường khác, tội gì tranh nhau chen lấn trên một cây cầu chật hẹp. Tìm được lý do để buồn thì cũng sẽ tìm được lý do để vui.

Vun bồi đóa hoa “tâm” để tỏa hương cho đời

Đi du xuân, chúc xuân thường mang về chữ “Tâm” thư pháp để treo trong nhà, mong muốn gia đình sống hiểu nhau, làm ăn gặp được người tâm đức.

Tết đến xuân về, nhà nhà đều dạy con cháu, năm mới tô bồi thêm tâm, thêm đức. Đi du xuân, chúc xuân thường mang về chữ “Tâm” thư pháp để treo trong nhà, mong muốn gia đình sống hiểu nhau, làm ăn gặp được người tâm đức.

Mừng xuân Nhâm Dần năm nay, tiểu cảnh mang nhiều màu sắc của vô số các loài hoa kết thành nổi bật lên chữ “Tâm”. Tâm con người vốn cũng rất nhiều sắc thái, nhưng chỉ ở hai trạng thái thanh cao hoặc hạ liệt, hay tốt hoặc xấu; hoa cũng có muôn vàn loài hoa mang nhiều sắc hương, nhưng cũng chỉ được nhận xét bởi hai nét: đẹp hoặc xấu, hay tươi hoặc héo.

Tâm thiện dâng hiến cho đời, được Đức Phật ví vượt trội hơn hương của tất cả các loài hoa:

“Hương các loài hoa thơm

Không bay ngược chiều gió

Nhưng hương người đức hạnh

Ngược gió khắp tung bay”(Kinh Pháp Cú, phẩm Hoa, câu 54)

Mô hình chữ “Tâm” được bố trí tại khu vực bên trái của sân Chính điện chùa Ba Vàng

Mô hình chữ “Tâm” được bố trí tại khu vực bên trái của sân Chính điện chùa Ba Vàng

Quán “Tâm” là một trong bốn pháp tu Tứ Niệm Xứ. Hành giả tu tập quán tâm cần nhận rõ tâm, tâm sở, thấy rõ được sự vô thường, sinh diệt của tâm, từ đó làm chủ, loại trừ chuyển hoá được các tâm bất thiện dục nhiễm, an trụ trong tâm giải thoát, an tịnh, tịch tĩnh, vô cùng sáng suốt diệu dụng.

“Thường dùng đức từ bi

Thanh tịnh như Phật dạy

Biết đủ và biết dừng

Sẽ vượt qua sinh tử”

Qua tiểu cảnh này, chùa Ba Vàng muốn nhắn gửi tới quý khách tham quan thông điệp: mong năm nay, mỗi người luôn luôn tươi trẻ chăm tu bồi tâm đức, để dâng đóa hoa tâm tỏa ngát hương thơm cho đời, cũng như răn dạy đệ tử Phật tại gia, chăm sóc vườn tâm theo chánh pháp Phật làm lợi ích cho mình, đệ tử Phật xuất gia, chăm tu tâm giải thoát làm lợi ích cho nhân thiên.

4 mô hình tiểu cảnh: Thân, thọ, tâm, pháp tại sân Chính điện chùa Ba Vàng (nguồn internet)

4 mô hình tiểu cảnh: Thân, thọ, tâm, pháp tại sân Chính điện chùa Ba Vàng (nguồn internet)

Hiện tượng tự tử dưới cái nhìn của tâm lý học và Phật giáo

Tất cả mọi người sống trong cõi đời này đều không dưới một lần nếm trải mùi vị của khổ đau. Và không ít người đã phải đối diện với những nỗi đau khổ cùng cực, dường như không còn lối thoát

Trong tình cảnh đó, một số người đã tìm đến cái chết – tự tử – xem như đấy là giải pháp duy nhất mà họ có thể chọn để thoát khỏi tình cảnh đen tối trong hiện tại.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm có hơn 1.500.000 người tự tử, và tự tử đứng hàng thứ 10 trong số những nguyên nhân dẫn đến tử vong trên thế giới. Đặc biệt, đối với độ tuổi thanh thiếu niên và người lớn dưới 35 tuổi, tự tử là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong. Hiện tượng tự tử đã xảy ra từ thời xa xưa, và trong thời đại ngày nay, tỷ lệ tử vong do tự tử ngày càng tăng cao.

Tự tử là một hành động cố ý giết hại bản thân, cố ý cướp đi sinh mạng của chính mình. Mạng sống rất quan trọng. Tất cả mọi người đều muốn sống, đều mưu cầu hạnh phúc. Vậy thì tại sao lại có những người tự mình tìm đến cái chết, tự mình kết liễu sinh mạng của mình như thế? Tâm lý học và Phật giáo nhìn nhận vấn đề này như thế nào? Liệu tâm lý học và Phật giáo có thể đưa ra những giải pháp nào hay để giải quyết cho vấn nạn này?

Về nguyên nhân đưa đến tự tử, tất cả các trường hợp tự tử với tâm trạng bi quan, tiêu cực đều là do họ bị lâm vào tình cảnh khổ đau cùng cực, không còn lối thoát nào khác.

Về nguyên nhân đưa đến tự tử, tất cả các trường hợp tự tử với tâm trạng bi quan, tiêu cực đều là do họ bị lâm vào tình cảnh khổ đau cùng cực, không còn lối thoát nào khác.

Quan điểm của tâm lý học về tự tử

Trong tâm lý học có nhiều quan điểm, nhiều khái niệm khác nhau về tự tử.

Theo nhà tâm lý học người Mỹ, Edwin Shneidman, tự tử là hành động tự làm tổn thương, cố ý chấm dứt sinh mạng của bản thân. Tự tử không phải là một chứng bệnh (mặc dầu có nhiều người nghĩ thế); tự tử không phải là do sự bất bình thường về mặt sinh học; nó cũng không phải là một hành động vô đạo đức, và không phải là một hành vi phạm pháp trong hầu hết các quốc gia trên thế giới (mặc dầu đã nhiều thế kỷ, ở nhiều quốc gia, người ta cho rằng tự tử là một hành vi phạm pháp)(1).

Charles Bagg, một chuyên gia tâm lý người Anh, cho rằng, tự tử là hành động cướp đi sinh mạng của bản thân một cách có chủ tâm, và hành động này có thể là hậu quả của những chứng bệnh tâm thần và cũng có thể là hậu quả của những động cơ khác nhau; những động cơ này không nhất thiết phải liên quan đến các chứng bệnh tâm thần, nhưng chúng mạnh hơn cả bản năng sinh tồn của con người(2).

Walter Hurst, nhà tâm lý học người New Zealand, cho rằng việc đưa ra quyết định tự tử thường bị thúc đẩy bởi ý muốn chấm dứt sự sống hơn là muốn chết. Tự tử là một sự lựa chọn quả quyết khi phải đối diện với một nỗi đau khổ cùng cực, dường như vượt quá mức chịu đựng của cá nhân và tự thân không thể nào giải quyết được.

Nhà tâm lý học người Ba Lan, Tadeusz Kielanowski, cho rằng tự tử là một quyết định bi thảm của một người khi họ không thấy người nào đưa tay ra giúp đỡ họ.

Trong cuốn sách Definition of Suicide (định nghĩa về tự tử) xuất bản năm 1985, Edwin Shneidman đã định nghĩa tự tử như sau: Tự tử là một hành động tự kết liễu sự sống của bản thân một cách có ý thức. Ở đấy, người ta phải đối mặt với một tình cảnh vô cùng khó khăn, phức tạp và họ nhận thấy rằng tự tử là giải pháp tốt nhất để giải quyết khó khăn đó(3).

Nguyên nhân dẫn đến tự tử

Khi nghiên cứu về các tác nhân có nguy cơ cao đối với hành vi tự tử, các nhà tâm lý học đã nhận ra nhiều căn nguyên dẫn đến hành vi này.

Nhân tố quan trọng nhất và dẫn đến nguy cơ tự tử cao nhất là các chứng bệnh về tâm lý, những rối loạn tinh thần, chẳng hạn như bị bệnh tâm thần phân liệt, bị trầm cảm nặng, bị chứng rối loạn lưỡng cực (lúc thì vui đến phát cuồng, lúc thì buồn đến mức suy sụp tinh thần), bị sang chấn tâm lý mạnh (có thể là do mất đi người thân yêu nhất, do bị chối bỏ, bị hắt hủi,…).

Lạm dụng các chất kích thích là nguyên nhân phổ biến thứ hai của việc tự tử. Việc lạm dụng các chất kích thích trong thời gian ngắn cũng như trong thời gian dài đều làm nguy cơ tự tử tăng lên. Hơn 50% số người tự tử có dính líu đến việc sử dụng bia rượu và ma túy. Hơn 25% số người nghiện ma túy và nghiện rượu tự tử. Trong lứa tuổi vị thành niên, việc lạm dụng bia rượu và ma túy chiếm tỷ lệ 70% số trẻ vị thành niên tự tử(4).

Tiếp theo là những nguyên nhân do các chứng bệnh về sinh lý, như bị mắc phải các chứng bệnh nan y, bị khuyết tật hoặc bị mất khả năng vận động do tai nạn đột ngột gây ra,… Não bộ bị thương tổn, hoạt động kém hiệu quả ở một vài chức năng nào đó cũng dễ dẫn đến việc tự tử. Những thương tổn sinh lý này gây ra thiểu năng trong quá trình nhận thức và ảnh hưởng đến các hoạt động sống, các quan hệ xã hội của người bệnh, chúng tác động ngược trở lại với xúc cảm, tình cảm, tâm trạng,… của người bệnh, khiến cho nguy cơ tự tử của người bệnh tăng cao.

Và cuối cùng là những tác nhân thuộc về môi trường xã hội. Qua các nghiên cứu và thống kê cho thấy, có những trường hợp tự tử xảy ra do những tác nhân, những sự kiện bên ngoài, những ảnh hưởng từ phía xã hội, chẳng hạn như bị người yêu chối bỏ, bị thầy cô giáo phạt, bị bạn bè trêu chọc, bị quấy rối, bị lạm dụng tình dục, bị cưỡng hiếp, bị cha mẹ trách mắng, bị mất cha hay mẹ, cha mẹ ly hôn, bị mất việc, bị sạt nghiệp, bị vỡ nợ, bị phản bội,… Đôi khi nhiều thanh thiếu niên tử tử vì một nguyên nhân rất lạ đời, như thần tượng của họ (ngôi sao ca nhạc, ngôi sao điện ảnh, người mẫu thời trang,…) bị chết hoặc tự tử, dẫn đến việc họ quyết định chết theo.

Chính vì vậy mà Đức Phật đã chế giới không sát sanh, trong đó quan trọng nhất là không được giết hại sinh mạng con người.

Chính vì vậy mà Đức Phật đã chế giới không sát sanh, trong đó quan trọng nhất là không được giết hại sinh mạng con người.

Biện pháp ngăn ngừa sự tự tử

Với những quan điểm, luận thuyết và những kết quả nghiên cứu về vấn đề tự tử như thế, các nhà tâm lý học đã đề xuất các giải pháp để ngăn ngừa sự tự tử trong xã hội, cụ thể như sau:

– Tuyển chọn và đào tạo các nhóm tình nguyện viên để phục vụ việc tư vấn các vấn đề liên quan đến tính riêng tư của cá nhân.– Nâng cao khả năng phục hồi tinh thần thông qua cách tư duy tích cực và các mối quan hệ xã hội.– Giáo dục về sự tự tử, bao gồm cả những tác nhân có nguy cơ, những dấu hiệu cảnh báo, và khả năng sẵn sàng hỗ trợ.– Nâng cao hiệu quả của các dịch vụ y tế và phúc lợi xã hội. Nâng cao chất lượng đào tạo các chuyên viên y tế và thành lập các trung tâm tư vấn cho những người bị khủng hoảng.– Hạn chế vấn đề bạo lực trong gia đình, nhà trường và xã hội. Hạn chế việc lạm dụng các chất kích thích để giảm bớt những vấn đề rắc rối về sức khỏe tinh thần.– Hạn chế khả năng tiếp cận dễ dàng đối với những phương tiện dùng để tự tử.– Can thiệp trực tiếp đến những nhóm đối tượng có nguy cơ tự tử cao.

Bên cạnh đó, đứng về phương diện chuyên môn, các chuyên gia tâm lý còn áp dụng các liệu pháp tâm lý để hỗ trợ nhằm ngăn ngừa, hạn chế tự tử. Cụ thể là sử dụng Liệu pháp tâm lý nhóm, thông qua đó các chuyên gia tâm lý giúp cho những người có ý muốn tự tử có được những kỹ năng sống cơ bản trong đời sống hàng ngày, như giúp cho người có nguy cơ tự tử nhận thức được những quyền cá nhân cơ bản của họ, hình thành cho họ những kỹ năng xoa dịu các xúc cảm, thiết lập những ranh giới trong các mối quan hệ xã hội, tham gia các hoạt động giải trí lành mạnh, và hình thành những kỹ năng giải quyết các vấn đề khó khăn của cuộc sống.

Quan điểm của Phật giáo về tự tử

Theo Phật giáo, để đánh giá tính chất của một hành động, không chỉ dựa vào những biểu hiện bên ngoài, mà còn phải căn cứ vào động cơ, yếu tố tâm lý bên trong. Đức Phật dạy rằng: “Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nói năng và hành động với tâm thanh tịnh thì sự an lạc sẽ theo ta như bóng không rời hình. Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nói năng và hành động với tâm ô nhiễm thì sự khổ sẽ theo ta như bánh xe lăn theo chân con vật kéo.” (Kinh Pháp Cú, kệ 01 – 02). Do vậy, đánh giá tính chất của hành động tự tử cũng dựa theo nguyên tắc này.

Nếu như người nào chịu hy sinh thân mạng của mình để đem lại an vui, hạnh phúc cho số đông, cho tập thể, và họ chết trong tâm trạng an nhiên, tự tại, không hề bị khổ đau bức ngặt, không hề lo sợ, thì đấy là một sự hy sinh vĩ đại, được mọi người ca tụng. Điển hình cho trường hợp này là hình ảnh các vị tu sĩ Phật giáo Việt Nam đã tự thiêu trong năm 1963 nhằm đòi lại sự công bằng, tự do và bình đẳng cho tín đồ Phật giáo nói riêng và cho nhân dân Việt Nam nói chung. Họ hy sinh để cho đất nước được yên bình, cho mọi người được ấm no, hạnh phúc. Hành động của họ được ví như hành động của bậc Bồ tát, xả thân vì tương lai của đạo pháp, vì lợi ích của mọi người. Hoặc như trong kinh điển đề cập đến một vị Tỳ kheo trẻ tuổi đã tự tử để giữ gìn phạm hạnh của mình khi bị một người nữ cưỡng ép quan hệ chăn gối với cô ta. Vị này biết rõ rằng nếu mình chịu quan hệ thì sẽ vi phạm giới luật; nhưng nếu không chịu quan hệ thì cô ta sẽ vu khống rằng mình đã có những hành vi tồi bại. Vì thế, để giải quyết tình cảnh bế tắc này mà không phạm giới, vị ấy quyết định tự kết liễu đời mình. Suy nghĩ như thế rồi, vị ấy giả vờ đồng ý và bảo cô đợi một chút. Vị Tỳ kheo vào phòng trong, đóng cửa và tự đâm vào cổ họng mà chết. Trước khi tắt thở, vị ấy kính lễ mười phương Tam bảo rồi dùng máu của mình viết lên vách mấy chữ như sau: “Vì tôn kính Tam bảo và gìn giữ giới hạnh mà con quyết định từ bỏ thân này”. Đây cũng là một sự hy sinh cao cả, chấp nhận hy sinh để bảo tồn uy danh cho ba ngôi Tam bảo, để giữ gìn giới thân huệ mạng của mình.

Tuy nhiên, những trường hợp hy sinh như thế là rất hiếm. Vấn đề cần bàn là đối với những trường hợp tự tử với tâm tiêu cực. Hầu hết những người tự tử đều mang tâm trạng khổ đau cùng cực, đều hoang mang, lo sợ. Họ tự tử không phải vì muốn chết mà là muốn trốn chạy khổ đau trong hiện tại. Tự tử đối với họ xem như là một lối thoát, một giải pháp cho tình cảnh bế tắc của bản thân. Hành động này hoàn toàn đi ngược lại với tinh thần của đạo Phật. Đức Phật dạy rằng: “Thân người khó được”. Được làm thân người là một diễm phúc vô cùng lớn, một khi bị mất đi thì không biết đời nào mới được sinh làm người trở lại. Dẫu biết rằng tấm thân năm uẩn này là giả tạm, nhưng cần phải nương vào thân này, dùng thân này làm phương tiện để tu thân hành thiện, để tịnh hóa thân tâm và tu tạo các công đức. Nếu hủy diệt thân này thì biết lấy gì để làm phương tiện tu tập. Chính vì vậy mà Đức Phật đã chế giới không sát sanh, trong đó quan trọng nhất là không được giết hại sinh mạng con người. Nếu ai phạm vào giới này thì xem như là người bỏ đi, vì họ không còn chút từ tâm, không có lòng trắc ẩn, không còn có cơ may chuyển hóa. Liên quan đến giới không sát sanh, trong Luật tứ phần có đề cập đến trường hợp các vị Tỳ kheo sau khi nghe Đức Phật dạy phép quán thân bất tịnh, do hiểu chưa thấu đáo chủ ý của Đức Phật về phép quán này, nên họ sinh tâm nhàm tởm thân mạng rồi có vị thì tự sát, có vị thì nhờ người khác đoạn thân mạng mình. Đức Phật dạy phép quán bất tịnh là để đoạn trừ lòng tham ái, nhất là luyến ái thân thể của mình hoặc của người khác. Biết được sự việc này, Đức Phật đã nhóm họp chúng Tỳ kheo và dạy rằng: “Việc làm của các vị ấy là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp của Sa môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, là việc không nên làm. Làm sao các Tỳ kheo ấy lại ngu si mà dứt mạng lẫn nhau? Các Tỳ kheo ấy là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này”. Nhân đấy mà Đức Thế Tôn chế giới không được sát sanh: “Tỳ kheo nào cố ý tự tay dứt sinh mạng người, cầm dao đưa người, khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết, nói: ‘Này nam tử, ích gì cuộc sống xấu ác này, thà chết còn hơn sống!’ Với tâm tư duy như vậy, dùng mọi phương tiện khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết; Tỳ kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung”(5). Qua đây, chúng ta thấy rõ lập trường, quan điểm của Đức Phật về vấn đề giết hại sinh mạng, dù là sinh mạng của chính mình hay của người khác, dù cho tự mình giết, hỗ trợ người khác giết, khen ngợi việc giết hại, khuyến khích người khác tìm đến cái chết đều phạm tội ba-la-di, một trong bốn trọng tội của một vị tu sĩ.

Lối sống “ít ham muốn, biết vừa đủ” cũng là một phương pháp tích cực để ngăn ngừa các tác nhân dẫn đến nguy cơ tự tử.

Lối sống “ít ham muốn, biết vừa đủ” cũng là một phương pháp tích cực để ngăn ngừa các tác nhân dẫn đến nguy cơ tự tử.

Hơn nữa, giải quyết vấn đề khó khăn bằng cách chạy trốn, bằng cách tự tử không phải là một giải pháp hay. Đức Phật khuyên mọi người nên đối diện với hiện thực cuộc sống, đối diện với những khó khăn, những khổ đau của mình để tìm ra giải pháp giải quyết một cách triệt để chứ không nên trốn chạy. Tự tử không giải quyết được vấn đề. Nếu sự khổ đau ấy là do nghiệp nhân chúng ta đã tạo trong quá khứ, bây giờ phải trả quả thì trốn chạy không phải là cách tốt, vì chỉ có thể trốn chạy một lần chứ không thể trốn chạy mãi được, chi bằng chúng ta đối diện với quả khổ ấy để rồi tìm cách chuyển hóa, như thế mới có cơ may chuyển được nghiệp khổ. Đấy là chưa kể khi tự tử, do cận tử nghiệp không tốt nên khiến cho người tự tử rất dễ bị đọa lạc vào những chốn khổ đau, u tối.

Về nguyên nhân đưa đến tự tử, tất cả các trường hợp tự tử với tâm trạng bi quan, tiêu cực đều là do họ bị lâm vào tình cảnh khổ đau cùng cực, không còn lối thoát nào khác. Khổ đau ấy có thể do mong cầu mà không được toại ý; do không làm chủ được cảm xúc, suy nghĩ thiếu chín chắn nên đã dẫn đến hành động nông nổi; do tự ái cá nhân quá cao nên khi bị người khác xem thường, khinh bỉ, khước từ hoặc làm nhục thì bị hụt hẫng, bị sốc cho nên tìm đến cái chết; hay là do lối sống trụy lạc, dẫn đến bị nghiện ngập; cũng có thể là do các chứng bệnh nan y giày vò thể xác lẫn tinh thần; hoặc bị các chứng bệnh tâm lý như là: bị stress nặng, bị trầm cảm nghiêm trọng, bị sang chấn tâm lý… Như vậy, đứng về góc độ Phật giáo, có thể kết luận nguyên nhân của tự tử là do nhiều lòng tham ái, do chấp ngã, sống thiếu chánh niệm, hoặc sâu xa hơn là do các nghiệp nhân bất thiện đã tạo ra trong quá khứ.

Đóng góp của Phật giáo cho việc giải quyết vấn nạn tự tử

Trước hết, chúng ta dễ dàng nhận thấy năm giới căn bản của Phật giáo (không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối trá, không dùng các chất kích thích) góp phần quan trọng trong việc ngăn ngừa và hạn chế nguy cơ dẫn đến tự tử. Trong đó, trực tiếp nhất là giới không sát sanh và không dùng các chất kích thích. Như trên chúng ta đã thấy, lạm dụng các chất kích thích là nguyên nhân xếp hàng thứ hai trong số những nguyên nhân chính dẫn đến tự tử. Nếu một người biết tuân thủ giới không sử dụng các chất kích thích mà Đức Phật đã chế định thì sẽ giảm đi rất nhiều các nguy cơ dẫn đến tự tử. Đối với giới không sát sanh cũng thế, nếu mọi người đều tuân thủ giới không sát sanh thì sẽ không xảy ra tự tử, vì ai cũng biết trân quý thân mạng, không nỡ hại người, hại mình. Còn vấn đề trộm cắp, quan hệ tình dục bất chính, nói những lời dối trá, thêu dệt, xuyên tạc sự thật cũng có thể xem là những tác nhân gián tiếp dẫn đến tự tử. Nếu như tuân thủ giới không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối trá thì có nghĩa là chúng ta đã hạn chế được các tác nhân gián tiếp ấy.

Lối sống “ít ham muốn, biết vừa đủ” cũng là một phương pháp tích cực để ngăn ngừa các tác nhân dẫn đến nguy cơ tự tử. Một khi con người biết áp dụng lối sống ít ham muốn, biết vừa đủ thì sẽ ít mong cầu, không chạy theo những thú vui trần tục, không bị những khoái cảm của các giác quan sai khiến, nhờ vậy mà cuộc sống được thăng bằng hơn, ít đau khổ hơn. Càng nhiều ham muốn thì càng đau khổ nhiều, ít ham muốn thì sẽ ít khổ đau.

Lạm dụng các chất kích thích là nguyên nhân xếp hàng thứ hai trong số những nguyên nhân chính dẫn đến tự tử. Ảnh minh họa.

Lạm dụng các chất kích thích là nguyên nhân xếp hàng thứ hai trong số những nguyên nhân chính dẫn đến tự tử. Ảnh minh họa.

Khiêm hạ là một phẩm chất đạo đức tốt, người nào biết thực tập đức khiêm hạ thì người ấy sẽ hạn chế rất nhiều các nguy cơ dẫn đến tự tử. Tại vì, khi mình biết khiêm hạ thì tâm mình ít bị dao động khi bị người khác chê bai hay ruồng bỏ; khi biết khiêm hạ thì dù có được người khác tâng bốc, lòng mình vẫn bình thản, cho nên không dễ dàng bị người khác lợi dụng, không dễ dàng bị người khác dẫn dắt để làm những việc tổn hại đến thanh danh, đạo đức của mình, tổn hại đến người khác. Do vậy mà mình sẽ ít phạm lỗi lầm hơn, ít khi phải sống trong tâm trạng bị lương tâm cắn rứt, bị dằn vặt đau khổ. Một khi biết sống với tâm khiêm hạ thì chúng ta luôn biết nhìn lên những người hơn mình để phấn đấu vươn lên, để sống tinh tấn hơn; đồng thời biết nhìn xuống những người kém may mắn hơn mình để tự biết rằng mình vẫn còn nhiều hạnh phúc, biết cảm thông và sẻ chia với người khác. Chính vì biết nhìn lên và nhìn xuống như thế, cho nên nếu không may lâm vào tình cảnh éo le, khổ đau cùng cực, mình cũng vẫn luôn lạc quan, tin tưởng, vẫn nuôi hy vọng về một ngày mai tươi sáng, vẫn cảm thấy mình còn hạnh phúc và may mắn hơn nhiều người, và phấn đấu để vượt qua chứ không quá bi thương, tuyệt vọng. Nhờ vậy mà ý niệm quyên sinh để thoát khỏi khổ đau không hề khởi lên trong tâm thức.

Các phương pháp thiền định và lối sống chánh niệm là một trong những phương pháp quan trọng của Phật giáo góp phần tích cực vào việc ngăn ngừa và hạn chế các nguy cơ tự tử, đồng thời góp phần điều hòa và chữa trị những tổn thương tinh thần do hành động tự tử gây ra cho chính nạn nhân cũng như cho người thân của họ. Trước hết, việc thực tập thiền định và sống chánh niệm sẽ giúp cho con người có được sự cân bằng tâm trí, nhận thức và đánh giá vấn đề đúng đắn, phù hợp hơn, đủ tỉnh táo và nhanh nhạy để đưa ra những giải pháp hiệu quả cho việc giải quyết những vướng mắc trong cuộc sống. Bên cạnh đó, thực tập thiền định và sống chánh niệm còn giúp cho hành giả làm chủ được xúc cảm của bản thân, nhờ vậy mà rất hiếm khi xảy ra những hành động bột phát, thiếu suy nghĩ. Không những thế, thiền định còn là một liệu pháp thư giãn rất hiệu quả, giúp giải tỏa những căng thẳng trong cuộc sống, không để cho những căng thẳng, những cảm xúc tiêu cực tích tụ trong thân tâm ngày này qua ngày khác để rồi dẫn đến những hệ lụy đáng tiếc.

Thêm vào đó, nếp sống hiền thiện mà Đức Phật dạy còn là một phương pháp vô cùng hiệu quả trong việc ngăn ngừa và hạn chế tự tử. Nguyên nhân chính dẫn con người đến quyết định tự tử là do khổ đau cùng cực, không còn lối thoát. Nếu biết sống hiền thiện, gieo các nhân lành thì chắc chắn sẽ gặt hái được quả lành, cuộc sống sẽ không bị đẩy vào những tình cảnh bi đát, tuyệt vọng. Hoặc giả nếu có bị lâm vào tình cảnh khốn khó thì cũng sẽ gặp được những con đường thoát hiểm, hoặc là được người khác cứu giúp, không đến nổi phải tìm đến cái chết. Hơn nữa, nếu chúng ta sống một cuộc sống hiền lương, đối xử thân thiện, có tình có nghĩa với mọi người thì sẽ được mọi người quý mến và đối xử tốt với mình, do vậy mà mình không có kết oán, gây thù với ai. Không có oán thù với ai thì đâu đến nỗi phải lâm vào cảnh bi đát, tuyệt vọng, đâu phải ôm hận trong lòng. Đã không bị lâm vào cảnh khốn cùng, không đến nỗi hoàn toàn tuyệt vọng thì không có ai muốn kết liễu sinh mạng của mình cả.

Ngày nay, thế giới hiện đại đang dần dần khám phá ra những giá trị vô cùng quý báu của đạo Phật để giải quyết những vấn nạn của xã hội, nhất là các nhà tâm lý học, họ đã phát hiện được khả năng trị liệu các chứng bệnh tâm lý, những rối loạn tinh thần rất hiệu quả từ trong kho tàng giáo lý của đạo Phật. Mong sao kho tàng giáo pháp quý báu của đạo Phật ngày càng được nhiều người biết đến và chuyên cần áp dụng vào trong đời sống của bản thân để chuyển hóa khổ đau, để sống hạnh phúc, an lành.

Vì sao hòa thượng phải cạo tóc, đôi khi còn có chấm đen trên đầu?

Phàm là những người xuất gia làm hòa thượng đều phải cạo trọc đầu, trong Phật giáo gọi là xuống tóc. Thế nhưng, tại sao các hòa thượng lại phải cạo tóc để thành đầu trọc? Tại sao lại có những hòa thượng xuất hiện những chấm đen trên đỉnh đầu?

Phàm là những người xuất gia làm hòa thượng đều phải cạo trọc đầu, trong Phật giáo gọi là xuống tóc. (Ảnh: Tundra Ayurveda)

Vào thế kỷ thứ 5 TCN, tại vùng biên giới giữa Nepal và Ấn Độ có một bộ tộc tên là Sakya (Thích Ca), Thái tử của bộ tộc Siddhartha Gautama (Tất đạt đa Cồ đàm) đã rời bỏ cung vàng điện ngọc để vào núi sâu tu hành. Bảy năm sau đó, Ngài giác ngộ thành Phật (với danh hiệu Thích Ca Mâu Ni) và bắt đầu hồng truyền Phật Pháp ở lưu vực sông Hằng, thu nhận lượng lớn các đồ đệ.

Phật giáo nhìn nhận rằng thế giới là huyễn tượng, nhân sinh đau khổ trầm luân, chỉ bằng cách đoạn trừ hết thảy những phiền não, tu hành thành Phật, mới có thể vượt thoát khỏi sinh tử luân hồi, đạt được hạnh phúc vĩnh hằng. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thời gian đầu thuyết pháp đã tự tay xuống tóc cho Tôn giả Ca Diếp và 5 người khác, ngụ ý muốn tiếp nhận bọn họ làm đồ đệ.

Hòa thượng xuống tóc có 3 ý nghĩa trọng đại

Thứ nhất, theo quan điểm của Phật giáo, tóc đại diện cho vô số phiền não và thói hư tật xấu của con người. Như vậy khi cạo tóc cũng giống như cắt bỏ đi những phiền não và ma tính của con người.

Thứ hai, cạo tóc cũng chính là loại bỏ đi sự kiêu ngạo cùng tất cả những lo toan của thế tục, toàn tâm toàn ý tu hành. Người cổ đại đều rất coi trọng đối với mái tóc, bởi họ cho rằng tóc là do cha mẹ ban cho, cần phải được giữ gìn, không thể làm tổn hại, nếu không sẽ là bất kính đối với cha mẹ. Tuy nhiên, Phật giáo lại yêu cầu đoạn dứt loại tình cảm thân quyến này, vì vậy cần thiết phải cạo tóc.

Thứ ba, cạo tóc là để dễ phân biệt với các giáo phái khác. Vào thời điểm đó, tại Ấn Độ có thể nói là giáo phái mọc lên như rừng, việc cạo tóc có thể giúp người khác nhận ra đó là người tu trong Phật giáo. Bởi vậy, cạo tóc đã trở thành một nghi thức không thể thiếu trước khi gia nhập Phật môn.

Khi Phật giáo mới truyền nhập vào Trung Quốc, các loại nghi lễ vẫn chưa phát triển, vì vậy chỉ cần cạo tóc và mặc quần áo vải thô giống như áo cà sa là có thể trở thành hòa thượng. Tuy nhiên, trên đỉnh đầu một số hòa thượng lại xuất hiện vết sẹo do chấm hương tạo thành, đây chính là một dấu hiệu rõ ràng để phân biệt người xuất gia tại Hán địa và thế giới bên ngoài.

Cũng vì thế, nhiều người đã nhầm lẫn rằng bất cứ hòa thượng nào cũng cần phải chấm hương trên đầu. Hơn nữa một số bộ phim điện ảnh hoặc truyền hình diễn cảnh về thời Đường – Tống, cũng xuất hiện các hòa thượng với vết chấm hương trên đầu. Phàm là người có chút kiến thức lịch sử về Phật giáo đều cảm thấy vô cùng buồn cười, cũng hiểu được rằng rất nhiều người đã bị hình tượng hòa thượng trên màn ảnh lừa gạt.

Trên thực tế, vết chấm hương này không phải là một nét đặc trưng của Phật giáo, trong giới luật cũng không có quy định về vấn đề này. Ngoại trừ các hòa thượng người Hán, thì các tăng nhân thuộc các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc và trên thế giới là không có vết sẹo này. Ngay cả những người Hán xuất gia trước thời Tống, cũng sẽ không có vết chấm hương trên đầu.

Chấm hương trên đầu của hòa thượng giống như một biểu tượng của thân phận và địa vị, cũng là biểu hiện của cấp bậc. (Ảnh: iFuun)

Chấm hương trên đầu có từ khi nào?

Tập tục chấm hương trên đầu được cho là có nguồn gốc từ triều đại nhà Nguyên. Vào thời đó, có vị hòa thượng tên Chí Đức (1235-1322) được Hoàng đế Hốt Tất Liệt hết mực coi trọng. Để thể hiện lòng thành kính tín ngưỡng đối với Phật Pháp, hòa thượng này đã dùng hương nóng chấm lên đỉnh đầu, tạo nên các chấm đen. Hành động này của ông lập tức nhận được sự tán thưởng của Hoàng đế.

Sau này trong khi truyền giới, hòa thượng Chí Đức quy định người thọ giới Sa di sẽ chịu 3 chấm hương, thọ giới Tỳ kheo chịu 12 chấm hương, giống như một lời thề tuân thủ suốt đời. Theo thời gian, phong tục này trở nên thông dụng và được lưu truyền về sau, trở thành một biểu trưng cho thân phận.

Đây có thể được coi là một tập tục không tốt làm tổn hại thân thể, là “đặc sản” của văn hóa Phật giáo ở đất người Hán. Từ đây chúng ta cũng có thể thấy, Phật giáo phát triển đến giai đoạn sau này, “tín ngưỡng đại chúng” có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn nhiều so với những “tinh anh văn hóa” được truyền thừa bởi một số ít các nhà tư tưởng (nhà Phật học).

Hòa thượng Chí Đức “phát minh” ra tập tục chấm hương trên đầu, căn bản không thể được tính là một nhà Phật học, nhưng phát minh không tốt này của ông lại được lưu truyền rộng rãi và sâu rộng về sau, mặc dù so với học thuyết của nhà sư Huệ Năng hay bất kỳ cao tăng nổi tiếng nào cũng đều không thể sánh được.

“Giới sẹo” của hòa thượng giống như một biểu tượng của thân phận và địa vị, cũng là biểu hiện của cấp bậc. Tiểu hòa thượng mới cạo tóc, trải qua vài tháng huấn luyện tân sinh, sẽ được tham gia một bài kiểm tra đơn giản. Sau khi vượt qua, lão hòa thượng trong chùa sẽ dùng cây hương chấm một vết đầu tiên lên đầu, gọi là “thanh tâm”, với ý nghĩa vượt qua cửa ải “thanh tâm quả dục”.

Trong vòng một hoặc hai năm tiếp theo, nếu những hòa thượng này có biểu hiện tốt, tương đối “thanh tâm quả dục”, không bị ràng buộc bởi thế tục, chú tâm tụng niệm kinh sách, thì có tư cách nhận được chấm hương thứ hai, gọi là “nhạc phúc” (không tận hưởng phúc lành và lạc thú của nhân gian).

Nói chung, nếu thuận lợi, một số lão hòa thượng trong chùa phần lớn có thể có được 5 hoặc 6 chấm hương; trụ trì của các ngôi chùa quan trọng như Thiếu Lâm Tự, Thanh Chân Quan hay Long Phát Đường có thể có 8 hoặc 9 chấm hương của cấp bậc “hòa thượng cao cấp” hoặc “hòa thượng đặc cấp”.

Tuy nhiên, chấm hương thứ 10 không phải hòa thượng bình thường nào cũng có khả năng có được, ngoại trừ Đạt Ma sư tổ, lục tổ Huệ Năng ra, thì hòa thượng có được 10 chấm hương này không quá con số 5. Chấm hương cũng không nhất thiết ở trên đầu, trên thân cũng có thể có, chẳng hạn như ở cánh tay.

Chỉ có điều, nói đi cũng phải nói lại, người chân chính xuất gia kỳ thực cũng không cần phải dựa vào những vết sẹo tổn hại thân thể này để chứng minh mình một lòng hướng Phật. Dù sao, mắt Thần như điện, không nơi nào không có Thần Phật, há lại không biết một người đối với Thần Phật có một lòng tôn kính hay không?

Tuệ Tâm (Theo NTDTV)

Từ bi chứa đựng sức mạnh vô biên có thể làm tan chảy cả những trái tim sắt đá nhất

Đôi khi từ những thứ mà chúng ta gọi là “mâu thuẫn” và “bất công”, ta lại học được những bài học về sự từ bi. Nó mềm mại hiền hòa và êm ái giúp xoa dịu mọi khổ đau, mất mát, giúp lòng người thanh tịnh, nhưng nó cũng chứa đựng sức mạnh vô biên có thể làm tan chảy cả những trái tim sắt đá nhất.

Từ bi chứa đựng sức mạnh vô biên có thể làm tan chảy cả những trái tim sắt đá nhất.1
Từ bi chứa đựng sức mạnh vô biên có thể làm tan chảy cả những trái tim sắt đá nhất. (Ảnh qua Сайт Лотоса)

Ngày xưa ở một tu viện tĩnh mịch trên một ngọn núi xa xôi nọ, có một nhóm các tu sĩ quyết tâm tu luyện để thăng hoa cảnh giới tinh thần dưới sự giám hộ và dẫn dắt của một vị sư trụ trì đáng kính. Nhiều người trong số họ đã đạt được thành tựu lớn và trở thành những bậc thầy vĩ đại như chính người thầy của mình.

Một hôm nọ, có một vị tiểu đệ tử ăn cắp bị bắt quả tang. Ai nấy trong tu viện đều tức giận. Sao lại có một việc nhơ nhuốc đến thế diễn ra tại nơi tôn nghiêm này? Họ đi bẩm việc này lên trụ trì. Tuy nhiên, sư trụ trì tỏ ra thờ ơ. Ông phớt lờ sự việc và không trừng phạt kẻ cắp đó.

Thế rồi một lần nữa người ta lại thấy kẻ cắp hành động. Tuy nhiên khi các đệ tử trong tu viện tức tối đến bẩm báo, sư trụ trì vẫn không trừng phạt cậu ta.

Tất cả các vị tu sĩ đều thấy sư trụ trì cư xử thật bất công. Sự bất bình ngày càng dâng cao và đi xa đến mức các đệ tử đã đồng lòng ký vào một bức thư thỉnh cầu mong sư trụ trì xử lý tên ăn cắp kia cho thích đáng, nếu hắn bị đuổi khỏi tu viện thì càng tốt. Còn nếu sư trụ trì vẫn chọn cách bao che cho kẻ phạm tội, thì bọn họ thấy rằng tốt nhất là nên bỏ tu viện mà đi cho rồi.

Nghĩ đến những lần bị ăn cắp chưa được đền bù thỏa đáng còn kẻ cắp thì vẫn nhởn nhơ, chúng đệ tử cảm thấy vô cùng căm tức. Trong lúc bộc phát ra những cơn giận, các vị tu sĩ đã bỏ qua phong thái điềm đạm, khoan dung của người tu hành, còn tu viện thì trở nên lộn xộn. Đến lúc đó, trụ trì đã cho triệu tập tất cả các đệ tử của ông lại.

Đó là một đêm khuya, khí trời lạnh lẽo, mọi người đều muốn được nghỉ ngơi, nhưng trụ trì nghĩ rằng đã đến lúc phải giải quyết sự việc này một cách dứt điểm.

Ông dùng ánh mắt yêu thương trìu mến để nhìn từng người đệ tử của mình và nói: “Các con là những đệ tử ngoan của ta, các con có thể phân định được đúng sai. Giả sử các con rời đi, ta chắc chắn các con sẽ dễ dàng được các tu viện khác thu nhận”.

Vị trụ trì dùng ánh mắt yêu thương trìu mến để nhìn từng người đệ tử của mình. (Ảnh qua Sống Đẹp)

Chúng đệ tử lắng nghe sư phụ nói những lời chậm rãi và cũng cảm nhận được lòng quan tâm chân thành mà sư phụ dành cho họ cùng nội tâm sâu thẳm của ông. Sư trụ trì tiếp tục nói với giọng từ bi: “Vậy còn người anh em không thể phân biệt đúng sai kia của các con thì sao? Ai sẽ thu nhận và dạy bảo cậu bé nếu đến cả ta cũng không chấp nhận cậu?”

“Cậu bé còn non dại và cần ta giúp đỡ, ta cũng chỉ muốn mang lại cho cậu ấy những điều tốt nhất. Cứ mãi làm những việc xấu xa dại dột đó tức là cậu ấy tự chuốc lấy khổ đau và quả báo cho bản thân, tuy nhiên cậu ấy vẫn chưa ý thức ra được. Nghĩ đến đó thôi là ta lại cảm thấy thật đau lòng.”

Giọng nói của vị sư già vẫn đều đều: “Cho nên ta mới không đuổi cậu ấy, kể cả khi làm như vậy nghĩa là ta sẽ phải chứng kiến cảnh từng người các con bỏ tu viện này mà đi.”

Đột nhiên từ trong chúng tu sĩ đang tập hợp trong lễ đường, cậu bé ăn cắp kia bước ra quỳ trước sư phụ và các sư huynh của mình. Những lời nói chậm rãi từ bi của sư phụ giống như tiếng sét đánh tan màn mây u tối và tội lỗi trong con người cậu, cậu biết là cậu đã sai và ân hận vô cùng. Nước mắt rơm rớm, cậu cầu xin được mọi người tha thứ và thề từ nay sẽ quyết tâm sửa đổi.

Cơn giận của những sư huynh ban nãy còn kịch liệt phản đối cậu bé bỗng tan biến. Họ chỉ đứng đó, im lặng. Ai nấy đều cảm nhận được năng lượng từ bi của vị sư già bao trùm cả tu viện.

Một vị tu sĩ cảm thấy rất hối hận. Vị này bước ra và nói: “Sao chúng con lại để bản thân mình tức giận như vậy chứ? Ngay từ ngày đầu tiên nhâp môn, thầy đã dạy chúng con phải dùng từ bi đối đãi chúng sinh, nhưng khi gặp một xíu mất mát về của cải vật chất, chúng con đã hoàn toàn quên mất lời dạy của thầy.”

Một tu sĩ khác tiếp lời: “Ban đầu ai trong chúng chúng con cũng đều muốn đến đây để tu hành khổ hạnh và đề cao tâm tính. Vậy mà… Chúng con đã rút ra bài học từ chuyện này. Chúng con xin hứa sẽ không nhốn nháo và phàn nàn như trước nữa.”

Vị tu sĩ thứ ba thở dài, đáp: “Đúng vậy. Sao lại bỏ tu viện đi được chứ! Lần sau chúng con sẽ cư xử phải phép hơn. Con muốn nói một điều rằng… qua buổi tối hôm nay, con không bao giờ quên được lòng từ bi của sư phụ. Đó là điều mà cả đời này con mãi mãi ghi nhớ trong tim.”

Từ bi chứa đựng sức mạnh vô biên có thể làm tan chảy cả những trái tim sắt đá nhất.2
Sự từ bi của vị trụ trì già đã thay đổi cuộc đời của người tiểu đệ tử. (Ảnh qua Epoch Times)

Đối với người tiểu đệ tử “tội lỗi” nọ, lòng bao dung của vị trụ trì già đã thay đổi cuộc đời cậu. Từ đó trở đi, cậu chỉ ước ao rằng bản thân có thể tu hành thật tốt để có được lòng từ bi giống như sư phụ của mình. Cậu đã ngộ ra rằng lòng từ bi chính là một loại năng lượng đẹp đẽ nhiệm màu, có thể thực sự cải biến con người ta trở nên tốt đẹp hơn. Nó mềm mại hiền hòa và êm ái giúp xoa dịu mọi khổ đau, mất mát, giúp lòng người thanh tịnh, nhưng nó cũng chứa đựng sức mạnh vô biên có thể làm tan chảy cả những trái tim sắt đá nhất.

Vậy là từ đó, không cần ai bày biểu, cậu tự biết đặt nhu cầu của người khác lên trên nhu cầu của bản thân, cậu luôn để ý đến cảm nhận của người khác, chủ động giúp đỡ đồng môn và nhắc nhở bản thân đừng ích kỷ mà hãy sống trung thực với tấm lòng vị tha rộng mở. Mỗi khi mở mắt thức dậy vào buổi bình minh, cậu tự nhủ đây sẽ là một ngày trọn vẹn để cậu tu dưỡng tâm từ bi.

Nhờ ngày này qua tháng nọ siêng năng tu tâm dưỡng tính nên trong lòng cậu luôn duy trì một loại cảm giác bình hòa tự tại và tâm trí trở nên yên tĩnh. Do đó cậu bé có thể ngồi thiền thật lâu, khiến đồng môn khâm phục. Khả năng này đến từ sự thăng hoa nội tâm khi cậu đi trên con đường trở về với bản chất thiện lương trong sáng của chính mình.

Thời gian trôi qua, những ấn tượng của đồng môn về một cậu bé ăn cắp không còn nữa, mà giờ đây người ta biết đến một nhà sư có trái tim nhân từ dành cho tất cả chúng sinh. Vị sư trẻ nhận được sự kính trọng của đồng môn, sư trụ trì thì vô cùng vui mừng khi thấy đệ tử của mình thay đổi tích cực.

Thời gian lại chầm chậm trôi, người đệ tử đó đã trở thành một vị tôn sư, dùng lòng từ bi và trắc ẩn để cảm hóa và dạy dỗ những thế hệ đệ tử tiếp theo.

Bảo San (Biên dịch)

Hành thiện vui nhất là không cầu người biết, thi ân kỵ nhất là đợi được đáp đền

Khi chúng ta đứng trước lựa chọn phải làm người cho đi hay người nhận lại, tin rằng có rất nhiều người sẽ thích lựa chọn trở thành người được nhận. Nhưng thực ra, cho đi sẽ khiến bản thân hạnh phúc hơn so với nhận lại, đó là niềm vui đến từ sâu thẳm trong tâm…

Mỗi người chúng ta khi đến thế giới này, từ nhỏ đến lớn trong mỗi giai đoạn đều không thể tách rời khỏi việc nhận sự giúp đỡ của người khác: sự giáo dưỡng của bố mẹ, kiến thức của thầy cô, sự tương trợ của bạn bè …, có thể nói trong cuộc đời chúng ta, bất kể lúc nào, bất kể nơi nào đều không thể tách rời những ân huệ mà người khác cho mình.

Thi ân không cần người phải báo đáp, đó mới chính là sự lương thiện cao nhất. (Ảnh: Pinterest)

Khi đứng trước lựa chọn cho đi hay nhận lại, không ít người mong sẽ được nhận lại, nhưng đâu biết rằng hạnh phúc thực sự lại ở chỗ biết cho đi. Có câu rằng: “Tặng người hoa hồng, tay còn lưu hương”, giúp đỡ người khác là đang tạo niềm vui cho chính mình.

Biết cách giúp người hoàn thành ước vọng, hiểu được thế nào là phó xuất, đây thật sự là biểu hiện của nhân cách chói sáng, đồng thời cũng là một lại trí huệ đối nhân xử thế.

Phó xuất là một loại cho đi, nhưng không cần phải chờ mong sự báo đáp của người khác. Khi chúng ta giúp đỡ người khác, cũng là đang giúp đỡ chính mình. Làm người nên có một trái tim lương thiện, lúc nào cũng suy nghĩ cho người khác, thi ân không cần người phải báo đáp, đó mới chính là sự lương thiện cao nhất.

1. Hành thiện mà muốn người biết, đó không phải thiện

Sự lương thiện cao nhất, là đặt mình vào vị trí người khác mà suy nghĩ. Một mực truy cầu báo đáp, thì sẽ thường bỏ qua cảm nhận của đối phương, dù cho có làm việc thiện, cũng có thể tạo ra sự tổn thương cho người khác.

Trong “Lễ Ký” có ghi chép một câu điển cố “Không ăn đồ bố thí” như sau: Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, thiên tai nhân họa không ngừng. Có một năm, nước Tề bị mất mùa, lão bá tánh không có cơm ăn, rất nhiều người vì đói mà chết.

Có một người tên là Kiềm Ngao, vì muốn lấy danh tiếng, đã phân phát đồ ăn cho người dân bị nạn trên đường. Kiềm Ngao sợ rằng người khác không biết mình đang “làm việc tốt”, cố ý hét to với người đi đường: “Đồ ăn không cần trả tiền đây! Mau đến ăn đi!”.

Không ngờ rằng, người trên đường chẳng một ai thèm để ý tới ông ta. Khó khăn lắm mới có một người dân bị nạn đi ngang qua, Kiềm Ngao liền chặn người này lại, dùng giọng điệu cao cao nói với người đó: “Này, ta kêu ngươi đấy! Qua đây ăn đi!”.

Ông ta vốn dĩ cho rằng người dân này sẽ cảm ơn đại đức của mình, sẽ dập đầu bái tạ, nhưng nào ngờ người đó trừng mắt nhìn ông ta và nói: “Ta thà chết đói, chứ không ăn!”.

Khi ban ân huệ cho người khác, đừng thể hiện bản thân để người khác cảm thấy rằng bạn rộng rãi hào phóng, thì họ sẽ nhận lấy ân huệ của bạn. Nếu giúp người khác chỉ vì muốn được báo đáp, trong lòng sẽ luôn tính toán, vậy thì hành thiện chẳng qua chỉ là một màn biểu diễn giả tạo, mà sự “bố thí” giả tạo này, với người với ta đều không được xem là một việc tốt.

Làm thiện muốn người ta thấy, điều thiện ấy không thực; Làm ác sợ người ta biết, điều ác ấy mới thật to. (Ảnh: Pinterest)

Chỉ có sự nhân từ thương cảm phát ra từ trong tâm, mới có thể khiến người khác cảm thấy ấm áp và hạnh phúc. Nếu vậy thì ân huệ mà ta cho đi, mới có thể phát ra ánh hào quang. Nếu như có mục đích xấu xa, sẽ như hạ thấp người khác, kiểu hành động cho đi này không được tính là cao quý.

Trong “Chu Tử Gia Huấn” có nói: “Thiện dục nhân tri, bất thị chân thiện; ác khủng nhân tri, tiện thị đại ác”, ý rằng làm thiện muốn người ta thấy, điều thiện ấy không thực; Làm ác sợ người ta biết, điều ác ấy mới thật to. Sự lương thiện phát ra từ trong tâm, giống như một cơn mưa mùa xuân, lặng lẽ tưới nhuần vạn vật.

2. Vui vẻ hành thiện, không cầu người biết

Tăng Quốc Phiên từng nói: “Hành thiện vui nhất là không cầu người biết”. Người xưa hành thiện tích đức, chú trọng khiêm tốn. Mặc dùng không khoa trương, nhưng chỉ cần bạn làm, công đức và phúc đức sẽ cứ dần dần tích lũy, phù hộ cho con cháu đời sau.

Nhưng nếu làm thiện chỉ vì để đạt được phúc báo và tán thưởng, nhiễm lòng tham công danh lợi lộc, dù cho có làm thiện bao nhiêu đi nữa, cũng rất khó để mà cảm thấy vui vẻ thật sự.

Trong “Chiến Quốc Sách – Ngụy Sách” có nói: “Nhân chi hữu đức vu ngã dã, bất khả vong dã; ngô chi hữu đức vu nhân dã, bất khả bất vong dã”. Ý nói, người khác đối xử với bạn có ân huệ, không thể không để trong lòng; mà bạn đối với người khác có ân huệ, không nên cứ để trong lòng.

Tục ngữ thường nói: “Nhận ơn một giọt nước, phải báo đền bằng cả dòng suối”. Việc này là đứng ở góc độ người được giúp đỡ để nhìn vấn đề, cổ vũ mọi người học cách cảm ơn, có ân thì cần phải báo đáp.

Nếu đứng ở góc độ là người bố thí mà nhìn, thì chỉ cần nhớ một câu tục ngữ: “Thi ân không cầu báo đáp”. Sự lương thiện chân thật, không cần phải nhận lấy sự báo đáp, không tính thiệt mất, nếu không thì sẽ trở thành kiểu người chỉ lấy thiện đối thiện, xem việc thiện như một cuộc giao dịch. Người ta trách bạn ham muốn lợi lộc, bạn hận người ta không biết đền ân, tâm tốt mà lại làm việc xấu, đến cùng là đôi bên đều thiệt.

Vô tư kính dâng là điều trân quý nhất, cho người khác ân huệ mà không cần sự báo đáp mới là vĩ đại nhất. Nếu như có một người cho người khác ân huệ nhưng lại cầu báo đáp, vậy thì người đó không phải là một người vô tư không vụ lợi, ý định ban đầu giúp đỡ người khác sẽ trở nên biến chất.

Chúng ta phải có được một trái tim bao dung từ bi, hành thiện với người, viện trợ giúp người. Chỉ khi từ bi với người, thì quan hệ giữa con người mới trở nên càng tốt đẹp hơn, thế giới sẽ trở thành một gia đình hòa thuận.

Có câu: “Tích đức không cần người thấy, hành thiện tự có trời biết”, cái thiện mà ta vô tình trồng được, sẽ có ngày ra hoa kết trái. Bạn chỉ cần tử tế, trời cao tự có an bài!

Tuệ Tâm (Theo SOH)

Kẻ dại khờ đổi sức khỏe lấy tiền rồi lại dùng tiền mua sức khỏe

Không có sức khỏe thì không thể hưởng được nhiều của cải, cũng như không có danh tiếng. Sự ngu ngốc lớn nhất của con người hiện đại là đánh đổi sức khỏe lấy tiền, rồi dùng tiền để mua sức khỏe.

Thời gian là liều thuốc đắt nhất thế giới

Hỏi thời gian: “Đời người là bao lâu?” Thời gian trả lời: “Chỉ có ba ngày”.

Chỉ có ba ngày trong cuộc đời của một người: hôm qua, hôm nay và ngày mai.

Cho dù ngày hôm qua tốt đến đâu, nó sẽ trở thành quá khứ, cho dù hôm nay tồi tệ đến đâu, nó cũng cần được trân trọng, cho dù ngày mai có đi xa đến đâu thì cũng phải nỗ lực.

Trên thực tế, không ai sống trong quá khứ và không ai sống trong tương lai. Hiện tại là hình thức duy nhất mà cuộc sống sở hữu.

dat gia Giadinhvietnam (1)

Ảnh minh họa. 

Hãy trân trọng hiện tại, thời gian là liều thuốc cho hạnh phúc, chỉ khi tận hưởng vị ngọt của thời gian, chúng ta mới có thể tiến về phía trước và sống mãi với vẻ đẹp của năm tháng.

Thời gian là cuộc sống, lãng phí thời gian của một người là lãng phí cuộc sống, lãng phí thời gian của người khác là giết chết tiền bạc.

Học cách sử dụng thời gian và lập kế hoạch thời gian, theo một nghĩa nào đó, là học cách lập kế hoạch cho cuộc sống của chính mình.

Trong khoảng thời gian có hạn, hãy làm những gì bạn muốn làm, nắm bắt từng phút từng giây để sống hết mình với cuộc sống có hạn.

Sức khỏe là vốn đắt nhất trong cuộc sống

Sức khỏe tốt là nền tảng của mọi thứ, của cải, danh vọng và tài sản chỉ là sự tô điểm.

Không có sức khỏe thì không thể hưởng được nhiều của cải, cũng như không có danh tiếng. Sự ngu ngốc lớn nhất của con người hiện đại là đánh đổi sức khỏe lấy tiền, rồi dùng tiền để mua sức khỏe.

Hãy ngừng làm việc ngoài giờ, ngừng thức khuya và học cách trân trọng cơ thể, duy trì sức khỏe của bạn. Tiền không thể mua được cuộc sống và lợi ích không thể đổi lấy sức khỏe.

Không cần theo đuổi những thứ đó ngoài thân. Khỏe mạnh, không bệnh tật, bình an cả đời là phúc lớn nhất của một người.

Bình tĩnh là sự tu dưỡng đắt giá nhất trong cuộc đời

Schopenhauer nói: “Cuộc sống là một khối lượng lớn những ham muốn, những ham muốn không được thỏa mãn sẽ gây đau đớn”.

Trạng thái cao nhất của cuộc sống là thoát khỏi đau đớn và buồn chán, trong lòng bình yên và tĩnh lặng, không gây sóng gió.

Hãy cố gắng sống đơn giản nhất có thể và giảm bớt những ham muốn của bản thân, để những được và mất bên ngoài không ảnh hưởng đến sự bình yên bên trong. Học cách nhìn cuộc sống của bạn từ góc độ của một người ngoài cuộc, học cách kiểm soát cảm xúc và không ngừng mở rộng tâm trí.

Phong cảnh đẹp nhất trên đời không phải là vinh hoa hay danh vọng mà chính là sự tĩnh lặng, bình lặng từ trong lòng. Duy trì bình tĩnh và không sợ hãi là sự tu dưỡng hàng đầu của một người.

dat gia Giadinhvietnam (2)

Ảnh minh họa.

Bạn bè là của cải đắt giá nhất trong cuộc đời

Không có số lượng liên lạc nào có thể so sánh với một người bạn biết và hiểu bạn.

Bạn bè là điều vô cùng thiêng liêng mà mỗi người nhất định phải có trong cuộc đời. Nhờ có bạn bè, cuộc sống của bạn sẽ vui vẻ hơn, ý nghĩa hơn rất nhiều. Có những người bạn luôn luôn cố gắng giữ mối quan hệ tình bạn với bạn mặc dù có những lúc giận nhau; cũng có những người bạn đem đến cho ta những nụ cười, những kinh nghiệm để xoa dịu đi những khó khăn trong cuộc sống.

Họ dạy cho ta những điều mà ta chưa bao giờ được học, họ cũng có thể giúp ta thực hiện những điều mà ta chưa bao giờ làm. Nếu bạn muốn tìm một người bạn có thể hi sinh vì bạn thì bản thân bạn cũng phải trở thành một người hi sinh vì tình bạn.

“Đạo Đức Kinh” nói: “Hài lòng là giàu có”.

Mong muốn là vô hạn, năng lượng có hạn, những người không hiểu sự mãn nguyện sẽ là nô lệ của dục vọng cả đời. Cuộc sống không gì khác hơn là sự bình yên và hạnh phúc bên trong, hạnh phúc của cá nhân không phụ thuộc vào việc anh ta có bao nhiêu, mà là anh ta có bằng lòng hay không.

Trong cuộc sống, không có bất hạnh, chỉ có bất mãn. Có đủ cơm ăn áo mặc, không bị bệnh tật, tai họa là điều may mắn.

Thứ đắt giá nhất trong cuộc đời không phải là tiền bạc hay địa vị, mà là sức khỏe, thời gian, sự đồng hành, trí lực, bạn bè… Với những thứ này, bạn mới là người chiến thắng thực sự trong cuộc sống!

Thùy Linh

Đọc nhiều

Mặc tin đồn hẹn hò ‘bủa vây’, Bích Phương diện đồ gợi cảm dự...

Bích Phương vô cùng quyến rũ trong tiệc sinh nhật của "soái ca" Đăng Khoa. Lẻ bóng “lâu năm”, dường như các fan hâm mộ...

Rác thải của con người đã ô nhiễm đến nơi tận cùng của Trái...

Một nhà thám hiểm người Mỹ đã lái tàu ngầm xuống vùng biển sâu nhất dưới đáy đại dương. Bên cạnh những khám phá...

Em chỉ muốn cùng anh một lần!

Lần đầu gặp mặt, Hân ngỡ ngàng khi “đối tượng” là một thanh niên mặt búng ra sữa. Thế nhưng, hắn luôn mồm xưng...

PGS.TS Bùi Hiền “trình làng” bộ câu đối Tết bằng ngôn ngữ “Tiếw Việt”

Những câu đối bình thường ai cũng biết đã được PGS.TS Bùi Hiền viết lại theo bảng chữ cái do ông sáng tạo từng...