Tin khoa học

Liên Hợp Quốc: Hàng tỷ người sẽ đối mặt với tình trạng thiếu nước vào năm 2050

Một báo cáo của Liên Hợp Quốc cảnh báo rằng 5 tỷ người trên toàn thế giới có thể bị thiếu nước sinh hoạt vào năm 2050.

Một số yếu tố được cho là nguyên nhân chính như nhu cầu sử dụng nước gia tăng, nguồn cung bị ô nhiễm và tình trạng biến đổi khí hậu.

Cuộc khủng hoảng cận kề


Động vật không thể tiếp cận nguồn nước sạch do các dòng sông bị ô nhiễm. (Ảnh: pixabay / CC0 1.0 )

Theo ước tính, con người sử dụng gần 4600 kilomet khối nước hàng năm, 70% trong số đó để phục vụ cho mục đích nông nghiệp, 20% được tiêu thụ bởi các ngành công nghiệp, và chỉ có 10% được tiêu thụ trực tiếp bởi con người. Như vậy, riêng việc kiểm soát quá trình sử dụng nước trong nông nghiệp đã có thể giải quyết cuộc khủng hoảng nước ở hầu hết các quốc gia. Một số phương pháp có thể cho phép nông dân cắt giảm việc sử dụng nước từ 50% trở lên. Báo cáo cho rằng ngành nông nghiệp nên tập trung vào các giải pháp truyền thống dựa vào thiên nhiên thay vì các phương pháp hiện đại khi xử lý nước.

Theo The Guardian , trong báo cáo nghiên cứu có đoạn:

“Trong một thời gian dài, thế giới đã dựa vào các cơ sở hạ tầng nhân tạo để cải thiện việc quản lý nước. Phương thức này thường sẽ khiến những kiến ​​thức truyền thống và bản địa gắn liền với các phương pháp tiếp cận xử lý nước xanh hơn bị “cho ra rìa”. Trước mức độ tiêu dùng tăng tốc, suy thoái môi trường và các tác động đa dạng của biến đổi khí hậu, rõ ràng chúng ta cần những cách thức mới để quản lý nhu cầu cạnh tranh đối với các nguồn tài nguyên nước ngọt”.

Trong thế kỷ qua, nhu cầu tiêu dùng nước đã gia tăng 600%. Ngày nay, sự tăng trưởng của nhu cầu này là 1% mỗi năm. Đến năm 2050, dân số toàn cầu sẽ nhảy vọt lên 9,4 tỷ so với con số 7,7 tỷ người hiện tại. Trong số này, khoảng 4,8 tỷ đến 5,7 tỷ người sẽ bị buộc phải sống ở những khu vực khan hiếm nước trong ít nhất một tháng mỗi năm. Đồng thời, gần 1,6 tỷ người sẽ phải đối mặt với nguy cơ lũ lụt.

Ô nhiễm là một vấn đề lớn khác. Mỗi con sông lớn ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đều bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm. Do các khu vực này chưa phát triển được một cách thức toàn diện để đối phó với nước thải của các ngành nông nghiệp và công nghiệp, ô nhiễm của các dòng sông vẫn tiếp tục gia tăng. Với việc gần 80% nước thải đô thị và công nghiệp đang thải ra mà không được xử lý đúng cách, một số dòng sông sẽ sớm trở nên cực kỳ ô nhiễm. Điều này sẽ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học ở khu vực xung quanh các con sông khi động vật không thể tiếp cận với nước sạch.

Trao đổi với Market Watch , ông Audrey Azoulay, tổng giám đốc UNESCO, cho biết:

“Xu hướng hiện tại cho thấy khoảng hai phần ba rừng và đất ngập nước đã bị mất hoặc suy thoái kể từ đầu thế kỷ 20. Đất đai đang bị xói mòn và suy giảm chất lượng”.

Mối đe dọa tới thế giới Ả Rập


Nguồn nước sông Nile đang bị ô nhiễm nhanh chóng. (Ảnh: pixabay / CC0 1.0 )

Khu vực Bắc Phi và Trung Đông là một trong những khu vực bị đe dọa nhiều nhất khi khan hiếm nước. Tỷ lệ bình quân đầu người tiếp cận được nước ngọt trong khu vực chỉ bằng 10% mức trung bình toàn cầu. Tỷ lệ này dự kiến thậm chí ​​sẽ giảm xuống một nửa vào năm 2050. Sa mạc hóa và biến đổi khí hậu chỉ khiến tình hình tồi tệ hơn. Ông Jose Graziano da Silva, Tổng Giám đốc Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc tin rằng tình trạng thiếu nước là một “vấn đề khẩn cấp” của cả khu vực. Trao đổi với Reuters ông nói:

“Không thể tin được rằng khu vực này lại không có một sự quản trị tốt trong lĩnh vực quản lý nước và quản lý đất đai… [Ở Ai Cập] họ có 32 bộ trưởng. Có lẽ hầu hết trong số 32 bộ trưởng đó, thì có tới 30 bộ trưởng đang đối phó với vấn đề nước sạch – nước là một vấn đề lớn đối với họ. Và họ không có giải pháp nào để phối hợp một cách hiệu quả hơn”.

Khoảng 97% lượng nước được sử dụng ở Ai Cập đến từ con sông Nile danh tiếng. Tuy nhiên, nguồn nước đang bị ô nhiễm nhanh chóng bởi chất thải dân dụng và nông nghiệp. Theo Liên Hợp Quốc, tình trạng thiếu nước nghiêm trọng sẽ tấn công nước này vào năm 2025. Tại Iran, nơi người dân tiêu thụ lượng nước nhiều gấp ba lần so với mức trung bình của thế giới, cuộc khủng hoảng nước dự kiến ​​sẽ lên đến đỉnh điểm vào năm 2030.

Theo VisionTimes
Nhật Quang biên dịch

 

Nhà hiền triết Ấn Độ cổ đại tiên đoán chính xác trên Sao Hỏa có nước

 

Mỹ cho cất cánh thành công máy bay lớn nhất thế giới, sải cánh gấp đôi Boeing 747

Chiếc máy bay lớn nhất thế giới gồm 2 thân và 6 động cơ máy bay Boeing 747 đã có chuyến bay thử đầu tiên thành công tại California, Mỹ.

Theo Sciencealert, Chiếc máy bay màu trắng có tên là Roc, với sải cánh dài bằng một sân bóng đá Mỹ và có 6 động cơ đã cất cánh vào khoảng 7h sáng, giờ địa phương sau đó bay trên không trong vòng khoảng 2 giờ. Máy bay sau đó hạ cánh an toàn tại cảng hàng không và không gian Mojave trước sự chứng kiến của đám đông cổ vũ.

Chiếc máy bay của Stratolaunch trang bị tới 6 động cơ máy bay Boeing 747 (Ảnh: Sciencealeart)

Đây là một sản phẩm của Stratolaunch Systems, công ty được thành lập bởi nhà đồng sáng lập Microsoft Paul Allen (qua đời vào tháng 10/2018), và hiện giữ kỉ lục máy bay lớn nhất thế giới tính đến thời điểm hiện tại.

Stratolaunch Systems tạo ra Roc với mục đích chở các tên lửa đẩy và những phương tiện không gian khác lên khu vực cận tầng bình lưu của khí quyển trước khi kích hoạt động cơ phản lực để bay vào quỹ đạo Trái Đất.

Sải cánh của máy bay có kích thước 117m, rộng hơn bất kỳ máy bay nào trên thế giới, dài 72,5m, nặng gần 227 tấn. Máy bay có hai thân, 6 động cơ máy bay Boeing 747, hai buồng lái, mỗi buồng ở một bên thân máy bay nhưng chỉ có một buồng lái được sử dụng để điều khiển, theo The Verge.

Chiếc máy bay lớn nhất thế giới này được thiết kế để thả tên lửa và các phương tiện không gian khác nặng tới 227 tấn (Ảnh: spacenews.com)

Trong chuyến bay thử này, máy bay chỉ bay ở tốc độ khoảng 300km/h và tại độ cao 5.000m để kiểm tra khả năng điều khiển và tổng thể máy bay.

Stratolaunch Systems có kế hoạch sớm nhất thả tên lửa đẩy đầu tiên từ máy bay Stratolaunch vào năm 2020.

Paul Allen, người đồng sáng lập Microsoft với Bill Gates năm 1975, đã tuyên bố thành lập Stratolaunch năm 2011. Cty nhằm sản xuất các thiết bị để đưa vệ tinh vào không gian, cạnh tranh với các doanh nghiệp ở Mỹ như SpaceX của Elon Musk và United Launch Alliance – doanh nghiệp hợp tác của Boeing và Lockheed Martin.

Ông Paul Allen đã qua đời cuối 2018 trong khi mắc bệnh ung thư chỉ vài tháng sau khi việc phát triển của máy bay được công bố. “Tất cả chúng ta đều biết Paul sẽ tự hào khi chứng kiến thành tựu lịch sử ngày nay. Máy bay là một thành tựu kỹ thuật đáng chú ý và chúng tôi chúc mừng tất cả những người tham gia” – Jody Allen – em gái ông Paul Allen nói.

Nhật Minh

 

DNA của người và tinh tinh chỉ khác nhau 1%: Liệu tinh tinh có phải là họ hàng gần nhất của con người?

Tại sao câu chuyện hoang đường về việc DNA của người và tinh tinh chỉ khác nhau 1% vẫn tồn tại dai dẳng trong khi sự khác biệt trên thực tế là 30%?


DNA của người và tinh tinh rất khác biệt. (Ảnh: icr.org)

Chúng ta vẫn thường nghe thấy các tuyên bố cho rằng DNA của người và tinh tinh là “gần giống hệt nhau”, với sự khác biệt chỉ vỏn vẹn 1%, do đó chúng ta có cùng tổ tiên chung với tinh tinh và điều này góp phần xác thực thuyết tiến hóa. Lấy ví dụ, theo một báo cáo năm 2012 về kết quả xác định trình tự DNA của loài vượn bonobo, một loài tinh tinh lớn trong chi tinh tinh :

“Kể từ khi các nhà nghiên cứu giải mã bộ gen tinh tinh vào năm 2005, họ đã biết rằng 99% DNA của người giống với của tinh tinh, khiến tinh tinh trở thành loài có họ hàng gần nhất với loài người”. [1]

Và đây không phải là một kết quả báo cáo từ nguồn thông tin thiếu tin cậy, bởi kết quả này được công bố trên tạp chí Science, tạp chí được xuất bản bởi Hiệp hội vì sự tiến bộ khoa học Hoa Kỳ (American Association for the Advancement of Science).Tạp chí Science được coi là một trong 2 tạp chí khoa học hàng đầu trên thế giới (tạp chí còn lại là tạp chí Nature của Anh).

Chúng ta không phải giống nhau đến 99%; không có chuyện đó.

Tuyên bố “DNA của người chỉ khác nhau tinh tinh 1%” này bắt đầu vào năm 1975. [2] Kể từ năm 1975, phải chờ một khoảng thời gian rất lâu về sau thì phương pháp so sánh trực tiếp các‘ký tự’ (cặp bazơ – A T G C) giữa DNA của người và tinh tinh mới ra đời. Trên thực tế, phải mãi đến năm 2001, bản phác thảo đầu tiên mô tả DNA của người mới được công bố, và đối với loài tinh tinh là vào năm 2005. Con số so sánh năm 1975 là kết quả của những so sánh sự tương đồng rất thô thiển bề mặt giữa những đoạn DNA rất hữu hạn, mà đã được chọn lọc trước, giữa người và tinh tinh. Các mạch DNA sau đó đã được kiểm tra xem chúng dính/ăn khớp với nhau đến đâu – một phương pháp gọi là lai phân tử (DNA hybridization).


(Ảnh: YouTube)

Liệu “sự khác biệt chỉ 1%” có thể được hiểu là “gần như giống y hệt”?

Bộ gen của người có khoảng 3.000 triệu ‘ký tự’. Nếu kết quả 1% là đúng, thì có nghĩa là có tới 30 triệu ký tự khác biệt giữa bộ gen của tinh tinh và người, tương đương với độ dài của 10 cuốn Kinh Thánh. Con số này nhiều gấp 50 lần so với DNA của vi khuẩn đơn giản nhất [3].

Đây thực sự là một sự khác biệt lớn vượt xa khả năng của những kịch bản tiến hóa lạc quan nhất có thể được kiến tạo, thậm chí ngay cả với khoảng thời gian tiến hóa được tuyên bố kéo dài hàng triệu năm [của các nhà tiến hóa]

Sự khác biệt thực sự là bao nhiêu?

Việc xuất bản các chuỗi DNA của người và tinh tinh đã cho phép so sánh sự khác biệt giữa 2 giống loài này.

Tuy nhiên, ngay cả điều này cũng tiềm ẩn nhiều vấn đề bởi vì bộ gen của tinh tinh không được kiến tạo từ con số không. Đầu tiên, các mảnh nhỏ DNA của tinh tinh phải được xác định trình tự; nghĩa là, thứ tự của các ký tự hóa học được xác định sử dụng các quy trình hóa học trong phòng thí nghiệm. Những chuỗi ‘ký tự’ nhỏ này sau đó được sắp thẳng hàng với bộ gen của người ở các vị trí thuận theo quan điểm của các nhà tiến hóa (sử dụng máy tính để so sánh và xếp đặt các phân đoạn). Sau đó, bộ gen của con người bị loại bỏ, để lại một bộ gen giả của tinh tinh được giả định là bộ gen của tổ tiên chung (theo thuyết tiến hóa) , để tạo ra một chuỗi DNA lai không có thật. Theo cách này, giả định tiến hóa trong việc xây dựng bộ gen tinh tinh sẽ làm cho nó trông giống với bộ gen người hơn trên thực tế. Nhưng ngay cả với cách làm thiên lệch ủng hộ thuyết tiến hóa này, sự khác biệt trên thực tế vẫn lớn hơn nhiều so với tỷ lệ 1%.


Sự khác biệt trên thực tế vẫn lớn hơn nhiều so với tỷ lệ 1%. (Ảnh: The Scientist Magazine)

Năm 2007, tạp chí Science đã xuất bản một bài báo về sự tương đồng giữa DNA của người và tinh tinh, có tiêu đề: “Những sự khác biệt tương đối: Chuyện hoang đường về tỷ lệ 1%”. [2] Tác giả, nhà báo Jon Cohen từ Tạp chí Science đã đặt nghi vấn về việc liệu có nên tiếp tục sử dụng con số 1%. Trong bài báo, ông đã dẫn chứng tỷ lệ khác biệt là vào khoảng 5%, theo sau việc công bố kết quả bản phác thảo xác định trình tự DNA giữa tinh tinh và người. Tuy nhiên, tỷ lệ 1% vẫn được đề cập đến vào năm 2012 trên chính tạp chí Science này . [Một sự thiếu nhất quán có phần khó hiểu].

Để chứng minh sự sai lầm xoay quanh tỷ lệ 1% này, vào năm 2012, nhà di truyền học, tiến sĩ Jeffrey Tomkins và nhà sinh học, tiến sĩ Jerry Bergman đã xem xét lại các nghiên cứu từng được công bố, trong đó so sánh DNA giữa tinh tinh và người. Khi tất cả các DNA đều được xem xét, chứ không chỉ là phần được chọn trước, họ đã phát hiện ra:

“Có thể kết luận rằng sự tương đồng giữa bộ gen của người và tinh tinh không giống hệt nhau quá 87%, và có thể không cao hơn 81%”.

Nói cách khác, sự khác biệt là rất lớn, có thể lớn hơn 19%. Thật vậy, Tiến sĩ Tomkins đã tự tiến hành việc so sánh kỹ lưỡng và tìm thấy sự khác biệt là xấp xỉ vào khoảng 30%. [6] Ngoài ra, nhiễm sắc thể Y, chỉ có ở giống đực, là hoàn toàn khác biệt, trái với dự đoán của các nhà tiến hóa. [7]

Tỷ lệ khác biệt lớn không tương thích với các kỳ vọng của thuyết tiến hóa mà tương thích với luận điểm cho rằng chúng ta được tạo ra một cách độc lập với các loài động vật.

(Ảnh: janegoodall.org)

So sánh hai bộ gen phức tạp không phải là một quy trình dễ dàng. Phải đưa ra các giả định dựa trên tầm quan trọng của các bộ phận khác khau của DNA và ý nghĩa của các dạng/loại khác biệt khác nhau giữa DNA của người và tinh tinh khi so sánh. Lấy ví dụ, đối với những gen người mà không có ở tinh tinh, hoặc ngược lại thì xử lý thế nào? Xu hướng chung là bỏ qua chúng và chỉ so sánh các gen tương tự.

Nhiều so sánh chỉ đề cập đến các gen mã hóa protein (chỉ chiếm 1,2% trong DNA, và nhiều gen mã hóa protein chung thực sự khá giống nhau [8]), với giả định cho rằng phần còn lại của DNA là ‘không quan trọng’ hoặc thậm chí là ‘rác’ – còn gọi là “DNA rác” (bởi chúng vô dụng). Tuy nhiên, quan điểm này không thể trụ vững được, bởi hầu hết tất cả các DNA đều có một chức năng, như vậy đã một lần nữa đi ngược lại kỳ vọng của các nhà tiến hóa. [9] Nhưng ngay cả nếu DNA ‘rác’ không có bất kỳ chức năng hay hoạt động nào, thì sự khác biệt ở đây vẫn lớn hơn rất nhiều trong các vùng mã hóa protein và phải được đưa vào khi đánh giá sự khác biệt. Không có chuyện DNA người và tinh tinh giống nhau đến 99%, không có chuyện đó.

Vậy tỷ lệ tương đồng này (nếu có), sẽ nói lên điều gì?

Không có nhà tiến hóa nào hay người theo thuyết sáng tạo nào (những người tin rằng Chúa tạo ra nhân loại, trái ngược với các nhà tiến hóa) có thể đưa ra dự đoán chính xác về tỷ lệ phần trăm giống nhau trước khi triển khai tính toán. Nói cách khác, cho dù đó là 99%, 95%, 70% hay bất cứ tỷ lệ nào khác, thì các nhà tiến hóa vẫn sẽ khẳng định sự tồn tại của cái gọi là “tổ tiên chung”, và các nhà sáng tạo vẫn nói về “nhà thiết kế chung” (ý tưởng cho rằng sự tương đồng về kết cấu giải phẫu và trình tự DNA của các giống loài chỉ đơn giản phản ánh thực tế là các loài sinh vật có cùng một nhà thiết kế – Đấng Sáng tạo, chứ không phải do có cùng tổ tiên chung, theo rational wiki. Đây là một lập luận thay thế thuyết tiến hóa trong việc giải thích cho nguồn gốc khởi thủy của các loài sinh vật)


(Ảnh: Daily Express)

Để hiểu được ý nghĩa của những số liệu này, chúng ta không phải đang dựa trên cách hiểu của các ngành khoa học cứng (hard science – vd: sinh học, hóa học, vật lý so với “khoa học mềm”, như kinh tế học, tâm lý học, xã hội học – Chú thích từ wikipedia), mà có thể được trình bày và biểu diễn bằng thực nghiệm; tất cả mọi người đều hình thành một cách hiểu độc lập về tỷ lệ khác biệt giữa DNA của người và tinh tinh dựa trên thế giới quan cá nhân – cho dù con số đó là nhiều hay ít.

Tuy nhiên, sự khác biệt giữa loài vượn và con người càng lớn, thì càng khó khăn trong việc giải thích kết quả này trong khung thời gian của thuyết tiến hóa, vì vậy các nhà tiến hóa đã có một lý do rất chính đáng để cố gắng làm nhỏ đi sự khác biệt (đến hết mức có thể).

Chuyện hoang đường vẫn tồn tại

Việc so sánh toàn bộ bộ gen đã hé lộ những kết quả khác biệt lớn hơn rất nhiều so với tỷ lệ 1%, nhưng tại sao chuyện hoang đường này vẫn tồn tại? Tại sao tạp chí Science vẫn phổ biến cho công chúng tỷ lệ hoang đường này vào năm 2012? Năm 2007, trong một bài viết trên tờ Science, tác giả Cohen đã trích dẫn nhà di truyền học người Thụy Điển Svante Paabo, giám đốc Khoa Di truyền học tại Viện Nhân chủng học tiến hóa Max Planck ở Leipzig, Đức như sau:

“Rốt cục, chúng ta vẫn đang dùng lăng kính chính trị, xã hội và văn hóa để nhìn nhận sự khác biệt [giữa người và tinh tinh]”. [2]

Có lẽ các nhà tiến hóa sẽ không từ bỏ tỷ lệ khác biệt 1% bởi nó phục vụ cho mục đích văn hóa, chính trị và xã hội của họ? Mục đích đó là gì, nếu không phải là việc phủ nhận ngụ ý rõ ràng liên quan đến các so sánh DNA, rằng loài người chúng ta rất khác biệt với tinh tinh ? Chuyện hoang đường về sự tương đồng giữa người và tinh tinh đã được sử dụng để củng cố tuyên bố cho rằng con người không có vị thế đặc biệt gì trên thế giới này, và thậm chí những con tinh tinh cũng nên được cấp quyền con người và thụ hưởng các giá trị tương đương. [10]

Tỷ lệ khác biệt lớn không phù hợp với mong đợi và kỳ vọng của thuyết tiến hóa, trái lại nó lại góp phần khẳng định rằng chúng ta được tạo ra một cách độc lập với các loài động vật. Chúng ta không phải là động vật. Đức Chúa Trời đã tạo ra người đàn ông đầu tiên từ bụi ( Sáng thế 2: 7 ) và người phụ nữ đầu tiên từ xương sườn của anh ta ( Sáng thế 2:22 ), chứ không phải từ bất kỳ sinh vật giống vượn nào đó. Và con người, khác với các loài sinh vật khác, được tạo ra dựa trên hình tượng của Chúa Trời (Sáng thế ký 1:26 27 ), một sản phẩm đặc biệt của Đấng Sáng Tạo. Hình tượng này không bị mất đi nhưng đã bị làm hỏng vào thời điểm con người rớt xuống (sự tích Adam và Eva bị đày xuống trần gian từ Vườn Địa Đàng), nên Chúa đã tạo ra con người cho một mục đích và sứ mệnh đặc biệt, cho hiện tại và cho vĩnh hằng tương lai.


(Ảnh: walksofitaly.com)

Tác giả: TS Don Batten, Creation.com
Ngọc chi biên dịch

 

 

London – trung tâm công nghệ đắt đỏ nhất thế giới

Silicon Roundabout” của London nổi tiếng là trung tâm công nghệ đắt nhất thế giới, với giá thuê đã đánh bại những khu vực tương tự ở San Francisco, Dublin và Los Angeles

Giá thuê trung bình mỗi foot vuông cho văn phòng tại Shoreditch, được coi là trung tâm của khu công nghệ London, là 70 bảng, so với mức giá khoảng 59 bảng ở khu vực Mid-Market của San Francisco và Docklands ở Dublin, nơi Google, Facebook và Twitter có trụ sở chính.
Theo công ty sở hữu Knight Frank, việc thuê một văn phòng ở Shoreditch gấp gần hai lần ở Brooklyn, New York, nơi giá thuê trung bình vào khoảng 43 bảng Anh một foot vuông.
Đặt một văn phòng ở phía Đông London hiện nay gần như đắt ngang với tiền thuê văn phòng tại Quảng trường Mile, khu kinh tế chính của thủ đô.
Phân tích của Knight Frank cho thấy một số thành phố ở Châu Âu cung cấp nhiều không gian làm việc với giá cả phải chăng hơn cho các doanh nghiệp công nghệ và sáng tạo. Văn phòng tại Potzdamer Platz của Berlin chỉ có giá 31 bảng Anh một foot vuông, trong khi trung tâm thành phố ở Amsterdam là khu vực công nghệ đang phát triển của thành phố cho thuê không gian văn phòng với giá 26,50 bảng một foot vuông.
Amsterdam được biết đến là một trong những nơi có giá cả phải chăng nhất để thuê văn phòng.
James Nicholson, đối tác của Knight Frank, cho biết: “Dù Shoreditch chỉ là một thị trường nhỏ được các công ty công nghệ và quảng cáo ưa chuộng, thì thị trường này là một ví dụ cho sự phát triển theo hướng công nghệ của London – mức giá cao phản ánh mức độ mà các công ty công nghệ và quảng cáo đánh giá cao việc có văn phòng ở thủ đô.”
Ngành công nghệ, truyền thông và viễn thông đã vượt qua các ngành tài chính và trở thành nguồn cung nhu cầu văn phòng lớn nhất tại London vào năm 2011, đồng thời đã giữ vị trí hàng đầu kể từ đó.
Ông Nicholson cho rằng các công ty công nghệ sẵn sàng trả nhiều hơn để thu hút và giữ được những nhân tài tốt nhất.
Theo Telegraph.co.uk

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nghiên cứu mới: Con người có khả năng cảm nhận photon – hạt vật chất ánh sáng rất nhỏ

Các vật chất trong thế giới lượng tử từ lâu được cho là không thể phát hiện bằng mắt thường. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra rằng con người có khả năng cảm nhận được những tia sáng từ một photon. Nghiên cứu được thực hiện bởi Alipasha Vaziri – một nhà vật lý tại Đại học Rockefeller ở thành phố New York, Mỹ.

Phát hiện những photon

Trước đây, người ta tin rằng các tế bào hình que trong mắt ếch sẽ rung động khi tiếp nhận được các photon đơn lẻ. Tuy nhiên, chúng ta không rõ liệu sự rung động của một tế bào hình que có thể kích hoạt được một tín hiệu mà có thể được truyền đến tận não bộ hay không. Cũng có những nghi ngờ về việc liệu con người có khả năng cảm nhận tín hiệu như vậy một cách có ý thức hay không nếu nó thật sự tiếp cận được đến bộ não của họ.

Nhờ các thí nghiệm của Vaziri, giờ đây chúng ta biết rằng con người có thể phát hiện ánh sáng phát ra từ một photon đơn lẻ. Trên thực tế, chính tác giả nghiên cứu đã tham gia thí nghiệm và tỏ ra rất kinh ngạc trước kết quả thu được. Trao đổi với tạp chíNature , ông cho hay:

“Điều tuyệt vời nhất là nó [“việc nhìn thấy photon”] không giống như việc bạn nhìn thấy ánh sáng. Nó gần như là một cảm giác, ở ngưỡng cửa của trí tưởng tượng”.

Nghiên cứu mới: Con người có khả năng cảm nhận photon - hạt vật chất ánh sáng rất nhỏ
Trước đây, người ta tin rằng các tế bào hình que trong mắt ếch sẽ rung động khi tiếp nhận được các photon đơn lẻ. Ảnh: pixabay

Trong thí nghiệm, Vaziri giữ 3 người trong bóng tối hoàn toàn trong khoảng 40 phút. Sau đó, họ sẽ được bảo nhìn chằm chằm vào một hệ thống quang học và nhấn nút. Hai âm thanh sẽ được phát ra cách nhau 1 giây. Sau tràng âm thanh, một photon sẽ được bắn ra.

Các tình nguyện viên sau đó phải chỉ rõ các thời điểm khi một photon được bắn ra. Họ cũng được yêu cầu đánh giá mức độ tin tưởng của họ về việc nhìn thấy chúng trên thang điểm từ 1 đến 3. Tổng cộng, các tình nguyện viên đã trải qua hơn 2.400 lượt thử nghiệm. Từ khối lượng thử nghiệm lớn trong các thí nghiệm, các nhà nghiên cứu đã có đủ dữ liệu thống kê để đi đến kết luận rằng con người có thể phát hiện ra các photon.

Một số nhà khoa học không cảm thấy thuyết phục với phát hiện của Vaziri vì chỉ có 3 cá nhân được thử nghiệm. Tuy nhiên, họ đồng ý rằng phương pháp của ông cung cấp một giải pháp vững chắc để giải quyết các tranh luận một lần và mãi mãi. Điều duy nhất cần phải làm là tiến hành thử nghiệm với một nhóm tình nguyện viên lớn hơn.

Sinh trắc học lượng tử

Khả năng con người phát hiện ra các photon cũng làm tăng khả năng sinh trắc học[1] chính xác hơn dựa trên các định luật của cơ học lượng tử. Mật mã học lượng tử về cơ bản hứa hẹn sẽ là hình thức bảo mật tối ưu. Khám phá của Vaziri có thể sớm góp phần tạo ra các hệ thống nhận dạng sinh trắc học không thể xâm nhập (không thể hack).

Trên thực tế, Michail Loulakis và nhóm nghiên cứu của ông tại Đại học Kỹ thuật Quốc gia Athens ở Hy Lạp đã và đang nghiên cứu khai thác cơ học lượng tử để nhận dạng người.

Nghiên cứu mới: Con người có khả năng cảm nhận photon - hạt vật chất ánh sáng rất nhỏ
Khám phá của Vaziri có thể sớm góp phần tạo ra các hệ thống nhận dạng sinh trắc học không thể xâm nhập (không thể hack). Ảnh: Pixabay

Ở mức cơ bản, môi trường sẽ quyết định số lượng photon “bắn đến” võng mạc một người và con đường mà chúng đi. “Suy hao phản xạ (optical losses)” khi ánh sáng truyền qua con ngươi, thủy tinh thể, giác mạc, dịch kính… cần phải được tính đến. Các nhà vật lý nhóm các yếu tố này thành một tham số đơn lẻ gọi là alpha để họ có thể đo đạc chính xác xác suất phát hiện ra chúng.

Cách thức alpha thay đổi (còn gọi là bản đồ alpha ) sẽ phụ thuộc vào các mô thức mạch máu, dây thần kinh và tế bào nhạy cảm với ánh sáng đặc thù trong mắt người. Như vậy, bản đồ alpha sẽ trở thành một chữ ký sinh trắc học tuyệt vời. Tuy nhiên, có một vài vấn đề mà nhóm cần giải quyết trước.

Tạp chí MIT Technology Review cho biết:

“Một câu hỏi quan trọng là làm thế nào để đo đạc chính xác Bản đồ alpha của bất kỳ ai ngay lúc đầu. Không có câu trả lời rõ ràng cho điều này. Một vấn đề khác là alpha có thể thay đổi theo thời gian, vậy nó thay đổi như thế nào. Lấy thí dụ, thị lực của tất cả mọi người đều suy giảm khi họ già đi, điều đó cho thấy một bản đồ alpha sẽ có một ngày hết hạn với độ dài không chắc chắn”.

Bất chấp những thách thức như vậy, nhưng mối quan tâm với việc sử dụng phát hiện photon để phát triển sinh trắc học lượng tử vẫn rất cao.

Chú thích:

[1] Sinh trắc học là thuật ngữ kỹ thuật để đo lường và tính toán các thông số cơ thể. Nó đề cập đến các số liệu liên quan đến đặc điểm của con người. Xác thực sinh trắc học (hoặc xác thực thực tế) được sử dụng trong khoa học máy tính như một hình thức nhận dạng và kiểm soát truy cập các thiết bị.

Nghiên cứu mới: Con người có khả năng cảm nhận photon - hạt vật chất ánh sáng rất nhỏ
Sinh trắc học. Ảnh: Wikipedia

Theo Vision Times
Nhật Quang biên dịch

 

Laser công nghệ cao tiết lộ các cấu trúc quân sự ẩn giấu dưới thềm đảo Alcatraz

Một sự kết hợp giữa laser công nghệ cao và radar xuyên mặt đất đã giúp khám phá một cơ sở hạ tầng quân sự 150 năm tuổi bị chôn vùi dưới nhà tù Alcatraz ở California.

Trước khi trở thành một trong các nhà tù nghiêm ngặt nhất thế giới, hòn đảo Alcatraz được sử dụng như một căn cứ quân sự từ năm 1850 đến năm 1933 . Đây là một hòn đảo nhỏ nằm giữa một số dòng chảy đáng sợ nhất của Vịnh San Francisco, hòn đảo nằm trong tầm mắt từ trung tâm thành phố hối hả và nhộn nhịp này bị cô lập và thách thức những kẻ đào tẩu do vùng nước lạnh lẽo và có cá mập.

Alcatraz
Căn cứ quân sự Alcatraz, vịnh San Francisco chụp năm 1928 (Ảnh: Wikimedia commons)

Khi nhà tù được xây dựng vào đầu thế kỷ 20, căn cứ quân sự cũ đã không được bảo vệ theo di sản văn hóa và luật bảo vệ vào thời điểm đó, dẫn đến các nhà thầu đã phá hủy các công trình quân sự tại đây.

“Trong khi chuyển đổi khu vực thành nhà tù, phần lớn lịch sử quân sự trước đây của hòn đảo đã bị xóa, nhưng chúng tôi tự hỏi liệu có lẽ một cái gì đó trong thời gian quan trọng đó vẫn còn, nhưng bị chôn vùi và được bảo tồn dưới lòng đất. Do đó, chúng tôi đã sử dụng các phương tiện không xâm lấn, không phá hủy để xác định xem liệu có bất kỳ di tích khảo cổ lịch sử nào nằm bên dưới một số phần của hòn đảo? Chúng tôi không biết những gì mong đợi. Chúng tôi không biết liệu sẽ có bất kỳ kiến ​​trúc dưới bề mặt nào còn sót lại tại di tích có ý nghĩa lịch sử này hay không, nếu còn gì, thì mức độ và tính toàn vẹn của chúng sẽ như thế nào.”, nhà khảo cổ học Timothy de Smet phát biểu trong một tuyên bố .

Sử dụng quét laser trên mặt đất, dữ liệu radar xuyên mặt đất và địa đồ hóa (quá trình lấy bản đồ số hóa cũ và liên kết chúng với một hệ tọa độ để có thể định vị chính xác trong không gian 3D), nhóm nghiên cứu đã có những phát hiện của mình. Viết trên tạp chí Near Surface Geophysics , nhóm nghiên cứu phát hiện những tàn dư của các công trình cũ bị chôn vùi như sân giải trí, các tuyến đường bằng đất chống bom, hầm gạch, và các ống thông gió vẫn còn trong tình trạng tốt đến kinh ngạc.

Một bản đồ năm 1867 của đảo Alcatraz khi nó còn là một pháo đài quân sự. Các doanh trại phòng thủ được hiển thị ở trung tâm sau này sẽ trở thành tòa thành và nhà tù đầu tiên. (Ảnh: Wikimedia Commons)

Phần còn lại của các đặc điểm khảo cổ lịch sử này chỉ là một vài cm bên dưới bề mặt và chúng được bảo tồn một cách kỳ diệu và hoàn hảo. Smet nói. “Chúng tôi cũng biết rằng một số đường đi qua đất được phủ bằng các lớp bê tông mỏng theo thời gian, có khả năng giúp giảm xói mòn do mưa nắng trên hòn đảo. Thật tuyệt vời khi tìm thấy lịch sử ngay dưới chân chúng ta.

Các nhà nghiên cứu cho biết thực tiễn này có thể được áp dụng cho các cấu trúc lịch sử khác trên khắp đất nước, cho thấy công nghệ hiện đại có thể trả lời các câu hỏi về hành vi của con người mà không đe dọa đến tính toàn vẹn của các di tích lịch sử.

Ngày nay, Methraz được chỉ định là Di tích lịch sử quốc gia và mở cửa cho công chúng tham quan.

Hoài Anh

 

Phát hiện tới hơn 300.000 thiên hà chỉ trong một mảng nhỏ của bầu trời

Sự kì vĩ và bao la của vũ trụ một lần nữa được chứng minh khi các nhà thiên văn học vừa phát hiện tới hơn 300.000 thiên hà chỉ trong một góc nhỏ của bầu trời phía bắc.

Một bản phát hành dữ liệu được thu thập bởi mạng lưới kính viễn vọng tần số thấp ( LOFAR ) ở châu Âu đã bổ sung các mức độ chi tiết mới lạ cho bản đồ sóng vô tuyến trên vũ trụ, truyền cảm hứng cho hàng chục nghiên cứu về mọi thứ từ từ trường đến lỗ đen.

Đo radio đòi hỏi một số thiết bị khá nhạy cảm. Dải 20.000 ăng ten của LOFAR nằm rải rác trên 48 trạm ở Hà Lan và nước ngoài giống như một con mắt nhạy cảm với sóng vô tuyến trên bề mặt hành tinh của chúng ta.

Trong số nhiều nhiệm vụ của nó là một cuộc khảo sát chuyên sâu về bầu trời đêm phía bắc với tần số vô tuyến khoảng 120 đến 168 megahertz, dự kiến ​​sẽ cung cấp thông tin mới về một loạt các hiện tượng thiên văn tỏa sáng nhẹ.

Thiên hà xoắn ốc M106 được đặt chồng lên dữ liệu LOFAR (màu vàng). (Ảnh: Cyril Tasse / Đài thiên văn Paris / LOFAR)

Cho đến nay chỉ có khoảng 20% khối lượng công việc của cuộc khảo sát đã được hoàn thành, và trong đó, các nhà khoa học trên toàn cầu chỉ có thể truy cập khoảng 10% dữ liệu có sẵn. Điều đó có vẻ không nhiều, nhưng rõ ràng họ đang rất nỗ lực triển khai dự án.

Tạp chí Astronomy and Astrophysics vừa công bố 26 nghiên cứu dựa trên công bố dữ liệu ban đầu này, bao gồm các chuẩn tinh, blazar, lỗ đen và trường điện từ liên thiên hà.

Một trong những tiết lộ lớn trong đó là 325.694 điểm trong đó ánh sáng của sóng vô tuyến tăng lên ít nhất năm lần so với nhiễu nền. Khoảng 70% trong số này có thể được liên kết với tín hiệu quang, do đó, khá an toàn khi nói những điểm sáng này đại diện cho các thiên hà mà chúng ta có thể thêm vào lộ trình vũ trụ của mình.

Cụm sáp G Abell 1314 được chụp bằng LOFAR. Màu xám biểu thị ánh sáng khả kiến, trong khi màu cam cho thấy phát xạ vô tuyến ‘ẩn’ (Ảnh: Sciencealeart)

Xác định vị trí của các thiên hà mới không chỉ giúp chúng ta hiểu cấu trúc bên trong của chúng mà còn cung cấp một công cụ có giá trị để hiểu được những khoảng trống rộng lớn ở giữa.

Thông thường, sóng vô tuyến được tạo ra bởi sự nhiễu loạn khuấy động khi các thiên hà va chạm.

“Điều chúng ta bắt đầu thấy với LOFAR là trong một số trường hợp, các cụm thiên hà không hợp nhất cũng có thể cho thấy sự phát xạ này, mặc dù ở mức rất thấp mà trước đây không thể phát hiện được” , nhà vật lý thiên văn Annalisa Bonafede từ Đại học Bologna nói.

“Phát hiện này cho chúng ta biết rằng bên cạnh các sự kiện sáp nhập, còn có những hiện tượng khác có thể kích hoạt gia tốc hạt trên quy mô lớn.”

Độ nhạy của mắt LOFAR trên bầu trời cũng đã giúp các nhà nghiên cứu tìm ra các từ trường mờ nhạt được dự đoán là tồn tại trong không gian liên thiên hà nhưng cho đến nay quá khó để phát hiện.

Tuy nhiên, những thành tựu này mới chỉ là khởi đầu. Còn rất nhiều bầu trời để khám phá và hứa hẹn có thể tiết lộ khoảng 15 triệu nguồn phát xạ sóng vô tuyến mới trong tương lai.

Hoài Anh

 

Tỷ phú George Soros cảnh báo về mối nguy hiểm từ quân đội AI của Trung Quốc

Những tiến bộ trong việc phát triển trí thông minh nhân tạo AI của Trung Quốc đang khiến rất nhiều chính phủ lo lắng. Hiện tại, nhà đầu tư, tỷ phú George Soros đã đưa ra một cảnh báo về cách chương trình AI của Bắc Kinh có thể tiến tới đe dọa các xã hội mở. Ông đã có bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới vừa kết thúc gần đây tại Davos, Thụy Sĩ.

Tỷ phú George Soros cảnh báo về mối nguy hiểm từ quân đội AI của Trung Quốc
George Soros, người sáng lập và chủ tịch của Quỹ đầu tư Soros Fund Management, phát biểu tại cuộc họp thường niên của Diễn đàn kinh tế thế giới ở Davos, Thụy Sĩ. (Ảnh: Bloomberg)

Thay thế một dạng độc quyền này bằng một dạng độc quyền khác?

Năm 2017, Trung Quốc đã ban hành một chiến lược rộng lớn nhằm đưa nước này trở thành nhà lãnh đạo toàn cầu về công nghệ vào năm 2030, truất ngôi và thay thế vị thế của Mỹ. Trung Quốc cũng đang triển khai Hệ thống Tín dụng Xã hội nhằm xác định vị thế của một người trong xã hội bằng cách theo dõi nhiều thông số như lịch sử tài chính, lịch sử pháp lý, các mối quan hệ cá nhân, hoạt động Internet, v.v.

“Hệ thống tín dụng xã hội, nếu đi vào hoạt động, sẽ mang lại cho Tập Cận Bình toàn quyền kiểm soát đối với người dân… Sự kết hợp giữa các chính quyền độc tài với việc độc quyền trên các lĩnh vực Công nghệ thông tin sẽ cung cấp cho các chế độ lợi thế cạnh tranh đối với các xã hội mở … Chúng mang lại một mối đe dọa chết người đối với các xã hội mở”, Soros nói trong một tuyên bố ( Wired ).

Ông cũng yêu cầu Tổng thống Trump có những hành động nghiêm khắc đối với các công ty Trung Quốc như Huawei và ZTE để đảm bảo chúng sẽ không thống trị thị trường công nghệ 5G toàn cầu. Soros đề nghị hình thành một cộng đồng quốc tế nhằm kiểm soát tính độc tài theo định hướng AI. Rốt cục, ông yêu cầu tạo một hiệp ước công nghệ toàn cầu giữa các quốc gia, giống với hiệp ước dẫn đến việc thành lập Liên Hợp Quốc, để việc sử dụng các hệ thống AI nhằm lạm dụng quyền con người có thể bị hạn chế và giảm thiểu.

Tỷ phú George Soros cảnh báo về mối nguy hiểm từ quân đội AI của Trung Quốc
Soros yêu cầu Tổng thống Trump có những hành động nghiêm khắc đối với các công ty Trung Quốc như Huawei và ZTE để đảm bảo rằng họ sẽ không thống trị thị trường công nghệ 5G toàn cầu. (Ảnh: Ảnh chụp màn hình / YouTube )

Mặc dù ý tưởng về một hiệp ước công nghệ giữa các quốc gia nghe có vẻ tuyệt vời, nhưng nó cũng làm dấy lên một số quan ngại nghiêm trọng liên quan đến các hệ lụy của nó. Lấy ví dụ, một thỏa thuận của Liên Hợp Quốc về việc di cư đã buộc các quốc gia châu Âu phải mở cánh cửa nhập cư hàng loạt đối với người tị nạn từ Trung Đông và châu Phi vào đất nước của họ. Một số quốc gia EU hiện đang có những hiểu lầm về nó và cảm thấy như thể sự di cư quá mức đang gây ra những căng thẳng sắc tộc trong khu vực.

Liệu một hiệp ước công nghệ sẽ dẫn đến một hệ quả tương tự? Điều gì sẽ xảy ra nếu hiệp ước buộc các quốc gia giao nộp một số vũ khí nhất định cho AI vì “Trí thông minh nhân tạo AI không thể bị hỏng?” Điều gì sẽ xảy ra nếu hiệp ước yêu cầu thông tin cá nhân của công dân nước này mở rộng đến tất cả các quốc gia? Những vấn đề và quan ngại như vậy có thể tạo ra những xung đột lớn giữa các quốc gia, các dân tộc.

Quân đội AI của Trung Quốc

Những tiến bộ của Trung Quốc trong lĩnh vực quân sự AI đã được các cơ quan tình báo của nước này coi là mối nguy hiểm đối với nước Mỹ. Tháng 2/2018, Giám đốc Tình báo Quốc gia Hoa Kỳ Dan Coats đã cảnh báo rằng việc Trung Quốc sử dụng Trí tuệ Nhân tạo có thể dẫn đến các hoạt động gián điệp và tấn công mạng dữ dội hơn chống lại Hoa Kỳ.

“Những ngụ ý trong việc đối thủ chúng tôi sử dụng AI là rất sâu rộng… Chúng bao gồm một lỗ hổng gia tăng đối với việc tấn công mạng, khó khăn trong việc truy tìm nguyên nhân, sự thúc đẩy các tiến bộ trong vũ khí ngoại quốc và hệ thống tình báo, nguy cơ tai nạn và các vấn đề pháp lý liên quan, và nạn thất nghiệp”, anh nói trong một tuyên bố ( The National Interest ).

Năm ngoái, Trung Quốc đã trình diễn một chiếc xe tăng không người lái kèm theo một đội máy bay không người lái đang được phát triển như một phần của các chương trình quân sự AI. Họ cũng được cho là đang phát triển các Phương tiện Chiến đấu Dưới nước Không người lái (UUCV) dưới biển sâu để giành ưu thế vượt trội tại vùng Biển Đông. Một lượng lớn các mạng lưới cảm biến dưới nước dự kiến ​​sẽ được triển khai trong khu vực để tạo ra một “Vạn Lý Trường Thành ngầm”.

Tỷ phú George Soros cảnh báo về mối nguy hiểm từ quân đội AI của Trung Quốc
Trong một khu vực mà nhiều quốc gia khác nhau đều có các tuyên bố chủ quyền, việc Trung Quốc phát triển phương tiện chiến đấu dưới nước không người lái (UUCV) dưới biển có thể cho phép họ giành được ưu thế vượt trội tại vùng biển Đông. (Ảnh: wikidia / Muff 1.0 )

Cam kết của Trung Quốc trong việc phát triển vũ khí AI thậm chí đã dẫn đến việc nước này tạo ra một chương trình đào tạo cho trẻ em. Năm ngoái, một loạt thanh thiếu niên đã được chọn lựa từ khoảng 5.000 ứng viên cho mục đích này. Ở Mỹ, một hành động như vậy sẽ bị gọi là đang lạm dụng trẻ em và tạo ra nhiều chỉ trích từ công chúng. Nhưng ở Trung Quốc, ĐCSTQ không quan tâm đến việc quân sự hóa tâm trí của trẻ em nước này, khi thấm nhuần chúng bằng tư tưởng bạo lực từ khi còn rất nhỏ.

Tỷ phú George Soros cảnh báo về mối nguy hiểm từ quân đội AI của Trung Quốc
Ảnh: Council on Foreign Relations

Quang Khánh (theo Vision Times)

 

 

Lưỡi tầm sét, ‘vũ khí hạt nhân’ của các vị Thần xuất hiện trên mặt trống đồng Việt Nam?

Trong những nghi thức và hình ảnh cổ xưa của nhiều tôn giáo, biểu tượng lưỡi tầm sét được biết đến với cái tên Vajra (tiếng Phạn), là một vũ khí hạt nhân bí hiểm và quyền năng nhất mà trùng hợp thay, các vị Thần của rất nhiều tôn giáo đều dùng: Phật giáo, Ấn Độ giáo, thần Dớt thần thoại Hy Lạp phương Tây…vv, cả trên các mặt trống đồng cổ xưa của Việt Nam…

Nó có khả năng phát phóng xạ và giúp các vị Thần dễ dàng tiêu hủy trong chốc lát cả một thành phố, cả một nền văn minh khi đạo đức nhân loại đã bị suy đồi…

Vajra là một ngôn ngữ tiếng Phạn, ở Tây Tạng nó được gọi là Dorje, ở Nhật  là kongose, ở Trung Quốc là dzigansi, Mông Cổ là Ochir.

Đây là một vật thể lễ nghi quan trọng trong Ấn Độ giáo, Phật giáo và Đạo Giai-na (Ấn Độ). Chúng ta thường thấy vajra trong tay Phật. Vajra đại diện cho một biểu tượng tôn giáo như thập tự trong Công giáo hay hình trăng lưỡi liềm trong đạo Hồi.

Vì lưỡi tầm sét được sấm sét tạo ra, tức do lửa-nước vũ trụ, do âm dương, càn khôn tôi luyện, rèn thành, rơi từ trời xuống nên được coi là những vật bằng sắt thiêng liêng, vì thế lưỡi tầm sét được dùng làm linh trượng, quyền trượng, vũ khí tế lễ, trong nhiều nền văn minh cổ.

Các búa thiên lôi hay tầm sét vajras của Tây Tạng thường được chế từ lưỡi tầm sét. Lưỡi dao quắm kris thiêng liêng nổi tiếng của Bali cũng được rèn luyện từ lưỡi tầm sét.

Trung Hoa cũng có các khí giới liên hệ tới lưỡi tầm sét, búa thiên lôi như dao găm thiên lôi. Chiếc chùy cũng được cho là biểu hiện của búa thiên lôi.

Vajra thường có chạc giống như một con dao găm sắc bén, Kongo vajra có thể có một, ba, năm hoặc nhiều chạc ở mỗi đầu. Một số có thiết kế nạm ngọc trong tín đồ đạo Phật.

Nó xuất phát từ việc thần Indra, vị thần quan trọng nhất trong tôn giáo Vedic, thường được khắc họa đang cầm một cây tầm sét quyền năng – Vajra, trong Phật giáo về sau trở thành một quyền trượng kim cương, Vajrayan.

Ở Cận và Trung Đông, gậy, khí biểu biểu tượng cho búa thiên lôi, sấm sét có hình chiếc đinh ba đơn hay kép như ta thấy vị Thần Marduk cầm trong tay.

Thần Indra có khí giới chính là lưỡi tầm sét vajra. Vajra của Indra kiểm soát sấm chớp, đem lại những cơn mưa cho ruộng đồng về mùa hè. Vì vậy Shiva có một khuôn mặt sấm sét, tay cầm trượng đinh ba và trống.

Vajra là vũ khí bí hiểm và quyền năng nhất, nó có tác dụng gì?

Vào thế kỷ 20, mọi người bắt đầu hiểu tiềm năng không thể tin được của tình trạng phóng xạ (các vật chất cao năng lượng như nguyên tử, neutrino, quartz..), họ cũng bắt đầu hiểu rằng đây không phải lần đầu có sự tồn tại của chất phóng xạ xuất hiện trong lịch sử loài người.

Frederick Soddy (2/9/1877 – 22/9/1956), một nhà khoa học người Anh, người đã phát hiện rằng đã từng có những nền văn minh cổ xưa nhưng vô cùng tiến bộ có thể khai thác để sản xuất điện hạt nhân.

Nhiều người trong chúng ta tin rằng đã tồn tại những vũ khí hạt nhân khủng khiếp trong quá khứ.

Vajra của Ấn Độ chính là một trong những vũ khí hạt nhân như thế được sự dụng để chống lại ác quỷ Vritra được mô tả có hình dáng nửa rắn nửa rồng.

Theo như nguyên văn của Vedic, ác quỷ này, cũng được biết đến như là kẻ thù, từng thay đổi hình dạng thành 99 cuộn dây như hình ” con rắn”. Những cuộn dây to lớn này đã ngăn chặn sông và suối và gây ra một đợt hạn hán lớn.

 

 

Vì điều này mà Vritra đã khiến cho không một vị thần nào dám can thiệp và chỉ duy nhất Indra là người đã can đảm chiến đấu chống lại Vritra với một trong những cây tầm sét có phát phóng năng lượng hạt nhân của mình. Như chúng ta biết, Thần Zeus cũng là người mang một cây tầm sét, ông đã sử dụng vũ khí của mình chống lại những thế lực hắc ám.

Bản chất của Vajra đủ để trấn áp ma quỷ, bao gồm những ác quỷ ở thiên thượng và cũng có khả năng chỉ đường. Ánh sáng vốn là đặc điểm của vajra, có sức mạnh phá tan bóng tối và không thứ gì có thể hủy diệt nó. Chất liệu của vajra thì khá bền, có thể phá hủy bất cứ thứ gì và bản thân nó là không thể hủy diệt.

Biểu tượng cây tầm sét quyền năng và bí hiểm này cũng xuất hiện nhiều ở các mặt trống đồng cổ

Trống đồng Phú Lương

Trống Đồng Thanh Hóa

  

Những trống đồng cổ có những biểu tượng cây tầm sét này được biết đến với cái tên: Trống Sấm. Trống Sấm khi đánh lên sẽ vang như sấm nổ, người cổ xưa thường dùng trống sấm để cầu mưa, cầu nước v.v cho mưa thuận gió hòa, không thiên tai lũ lụt, cho vạn vật được sinh sôi.

Công cụ quyền năng này của các vị Thần không chỉ dùng để tiêu diệt kẻ thù là các thế lực hắc ám, mà nó cũng có thể có khả năng gây ra mưa và các Thần dùng để tạo ra sự màu mỡ cho muôn dân.

Phương Lâm – Thái Tuấn 

 

Đọc nhiều

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài. Trong kiếp nhân sinh này, mỗi người đều có sự lựa...

Có gì ở bệnh viện đa khoa quốc tế hơn 20.000 m2 mới khai...

Vừa qua, tại Hà Nội có thêm một bệnh viện đa khoa quốc tế hiện đại đi vào hoạt động. Chỉ sau một thời...

Cập nhật dịch COVID-19 sáng 2/3: Số người tử vong trên thế giới tăng...

Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc (NHC) hôm nay (2/3) thông báo có thêm 42 ca tử vong vì COVID-19 trong ngày...

Mặc tin đồn hẹn hò ‘bủa vây’, Bích Phương diện đồ gợi cảm dự...

Bích Phương vô cùng quyến rũ trong tiệc sinh nhật của "soái ca" Đăng Khoa. Lẻ bóng “lâu năm”, dường như các fan hâm mộ...