Khoa học - Công nghệ

“Con tàu ma” bí ẩn hàng thế kỷ cuối cùng đã được tìm ra

Một cặp thợ săn tàu đắm táo bạo gần đây đã tìm ra nơi an nghỉ cuối cùng của Hudson, một con tàu chở hàng bằng hơi nước biến mất khi bị một cơn gió dữ dội nhấn chìm xuống đáy hồ Superior vào ngày 16-9-1901.

Jerry Eliason và Kraig Smith là hai thợ săn tàu đắm cuối cùng đã tìm thấy nó bằng cách sử dụng sonar (một kỹ thuật sử dụng sự lan truyền âm thanh (thường là dưới nước) để tìm đường di chuyển) và máy ảnh.

Phần còn lại của con tàu dài gần 88m được tìm thấy nằm yên dưới độ sâu cách mặt nước khoảng 251m. Đuôi tàu có lẽ cách đáy khoảng 6m và cánh quạt được treo cao trên không trung.

“Tàu ma” bí hiểm cuối cùng đã được tìm thấy.

Theo các phương tiện truyền thông, truyền thuyết về “con tàu ma” của người Viking đã xuất hiện trong những thập kỷ sau khi Hudson sụp đổ, với những câu chuyện ám ảnh về con tàu và phi hành đoàn, và bóng ma của nó vẫn đi thuyền trên hồ.

Tình hình chính xác của vụ chìm tàu ​​hiện vẫn chưa rõ ràng. Giáo sư của Đại học Minnesota, Julius Wolff, lưu ý rằng, tại sao tàu Hudson bị khuất phục khi nhiều tàu khác ít đi qua gần khu vực vẫn là một trong những bí ẩn của hồ.

Eliason và Smith hiện có ý định quay trở lại hồ để lấy thêm hình ảnh của Hudson và tiếp tục tìm kiếm một con tàu đắm khó nắm bắt khác, Sunbeam, bị chìm năm 1863.

“Thật là thú vị khi giải quyết một bí ẩn chưa được giải quyết trước đây”, Smith nói.

 

 

Babylon được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới

Thành cổ Babylon nổi tiếng với vườn treo, tháp Babel và những pháo đài bằng gạch bùn chính thức được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới.

Báo Tuổi Trẻ dẫn nguồn từ BBC nói rằng, ngày hôm qua (5/7), Ủy ban Di sản thế giới Liên Hợp Quốc đã có một cuộc họp tại Azerbaijan để xác định những địa danh mới nhất sẽ được vinh danh. Các địa danh được xem xét là các khu vực quan trọng đối với nhân loại và được các hiệp ước quốc tế bảo vệ.

Theo đó, thành cổ Babylon thuộc nền văn minh Lưỡng Hà đã chính thức được UNESCO công nhận Di sản Thế giới sau cuộc bỏ phiếu – một thành công sau gần 3 thập kỷ vận động hành lang của Iraq, Vnexpress dẫn theo AFP cho biết.

Tàn tích thành cổ Babylon, Iraq. (Ảnh: Dr. Osama Shukir Muhammed Amin/Wikipedia)

Babylon là một khu phức hợp rộng 10 km2 nằm dọc con sông Euphrates, cách thủ đô Baghdad của Iraq về phía nam khoảng 100 km.

Babylon là thành phố cổ đông dân nhất thế giới trong giai đoạn 1770 – 1670 TCN. Đây có thể là thành phố đầu tiên trong lịch sử có dân số trên 200.000 người. Thành phố này nổi tiếng với những khu vườn treo, tháp Babel , cổng Ishtar, hay những pháo đài bằng gạch bùn.

Hình mô phỏng vườn treo Babylon. (Ảnh: Anomalien)
Cổng Ishtar được phục dựng tại bảo tàng Pergamon, Berlin, Đức. (Ảnh: Wikipedia)

“Sẽ thật thiếu sót nếu danh sách Di sản Thế giới không có Babylon. Làm thế nào có thể kể về lịch sử nhân loại mà không có chương sớm nhất?”, đại diện của phái đoàn Iraq nhấn mạnh.

“Babylon là nền văn minh có chữ viết, chính quyền và sự phát triển khoa học. Việc được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới sẽ khuyến khích các nghiên cứu mới, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của du lịch”, Qahtan al-Abeed, người đứng đầu Cục Cổ vật Basra, Iraq cho biết thêm.

UNESCO đã cảnh báo địa danh này “trong điều kiện cực kỳ dễ bị tổn thương” và cần các biện pháp bảo tồn khẩn cấp do có các cấu trúc có thể sụp đổ bất cứ lúc nào. Tuy vậy tổ chức này chưa thể liệt Babylon vào danh sách Di sản thế giới đang gặp nguy hiểm do vấp phải sự phản đối từ phía Iraq. Dù vậy, UNESCO vẫn sẽ làm việc với chính quyền địa phương để đưa ra các kế hoạch. bảo tồn cụ thể.

Quang Khánh

 

 

Xuyên không là có thật: Ghi nhận trường hợp phi hành gia người Nga du hành ‘tới tương lai’

Trong suy nghĩ của con người ngày nay, việc du hành đến tương lai là điều không tưởng. Tuy nhiên, có thể bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng có một phi hành gia người Nga thực sự đã du hành đến tương lai.

Người du hành thời gian

Sergei Krikalev là một phi hành gia kỳ cựu, người đã dành 803 ngày, 9 giờ và 39 phút trên Trạm vũ trụ quốc tế (ISS). ISS quay quanh Trái đất với tốc độ khoảng 7,66 km/s. Do khoảng thời gian lưu lại lâu dài trong không gian vũ trụ, nên các nhà khoa học lập luận rằng sau khi Krikalev hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng và trở lại Trái đất từ thì thực tế thời gian của ông đã trôi nhanh hơn thời gian Trái đất 0,02 giây.

Dù chỉ là 0,02s, nhưng Krikalev đã thực sự đến được tương lai. (Ảnh: express.co.uk)

Theo Universe Today, “khi các phi hành gia và vệ tinh di chuyển quanh Trái đất, họ ở cách xa trung tâm Trái đất hơn một chút so với người trên mặt đất, do đó thực tế họ sẽ ít chịu ảnh hưởng hơn từ sự giãn nở thời gian do lực hấp dẫn. Điều này có nghĩa là thời gian của các phi hành gia sẽ nhanh hơn một chút và khi họ quay trở lại Trái đất, thì họ đã phải ‘quay trở lại’ quá khứ so với khi họ ở trong không gian vũ trụ”.

Krikalev đã nghỉ hưu vào năm 2007. Hiện ông là Phó chủ tịch Tập đoàn Vũ trụ Energia – nhà sản xuất các bộ phận lắp ghép của trạm vũ trụ, tàu vũ trụ và tên lửa đạn đạo của Nga. Mặc dù đi trước mọi người 0,02 giây không mang lại cho Krikalev bất kỳ lợi thế đáng kể nào, nhưng ông chắc chắn đã khắc tên mình trong lịch sử như một người đã du hành xuyên thời gian thành công.

Vậy nếu như vậy, liệu chúng ta có thể tiến nhập vào tương lai hay không? Các nhà vật lý cho rằng điều này là có thể.

Sergei Krikalev đã nghỉ hưu vào năm 2007 sau khi dành 803 ngày, 9 giờ và 39 phút trên Trạm vũ trụ quốc tế (ISS). (Ảnh: Ảnh chụp màn hình / YouTube)

Theo lý thuyết hiện tại, việc du hành đến tương lai chỉ có thể được thực hiện nếu một người đã có khoảng thời gian ở gần một hố đen. Trao đổi với trang Express, ông Brian Greene, nhà vật lý lý thuyết và nhà lý thuyết dây (thuyết hấp dẫn lượng tử) từ Đại học Columbia, cho biết:

“Bạn có thể dạo chơi [bên cạnh một lỗ đen] một lúc, sau đó quay trở lại, ra khỏi tàu vũ trụ và thời gian hiện tại của bạn có thể sẽ là một năm bất kỳ nào đó trong tương lai. Tất cả tùy thuộc vào mức độ bạn đến gần mép của hố đen bao nhiêu và thời gian bạn dừng ở đó bao lâu. Đó chính là du hành đến tương lai”.

Các vệ tinh GPS thường “du hành” vào tương lai vì chúng quay quanh Trái đất với tốc độ 14.000 km/h. Điều này về cơ bản đã giảm bớt một vài micro giây từ đồng hồ của chúng so với đồng hồ trên Trái đất. Như vậy, cả hai đồng hồ phải được đồng bộ hóa khá thường xuyên để đảm bảo chúng cùng tuân theo một mốc thời gian.

Mô phỏng việc đảo ngược thời gian

Gần đây, một nhóm các nhà khoa học từ Viện Vật lý và Công nghệ Moscow (MIPT) đã thành công trong việc mô phỏng sự đảo ngược của thời gian. Mô phỏng được thực hiện bằng máy tính lượng tử gồm hai qubit (đơn vị thông tin lượng tử), trong đó máy tính phải thực hiện bốn giai đoạn – khởi đầu, suy thoái, đảo ngược thời gian và hỗn loạn.

Trong giai đoạn đảo ngược thời gian, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một chương trình cho phép máy tính đi ngược quy trình, từ trạng thái hỗn loạn chuyển về trạng thái có trật tự (thông thường là ngược lại!!!). Như vậy, thay vì chuyển từ giai đoạn suy thoái sang hỗn loạn, các qubit cuối cùng đã được khôi phục trở lại trạng thái ban đầu, và về cơ bản đây chính là việc du hành trở về quá khứ.

Quá trình mô phỏng sự đảo ngược thời gian bằng máy tính lượng tử đã được thực hiện thành công bởi một nhóm các nhà khoa học từ Viện Vật lý và Công nghệ Moscow (MIPT). (Ảnh: YouTube)

Theo IB Times, “trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã cố gắng phân tích khả năng vi phạmđ định luật thứ hai của nhiệt động lực học. Định luật thứ hai này quy định rằng entropy hoặc sự hỗn loạn của một hệ thống kín sẽ tăng theo thời gian. Sự gia tăng entropy này tạo ra một ‘mũi tên thời gian’, về cơ bản là sự tịnh tiến không thể đảo ngược từ quá khứ đến tương lai”.

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng những gì họ đã làm chỉ là mô phỏng quá trình đảo ngược thời gian và điều đó không có nghĩa là con người giờ đây có khả năng du hành về quá khứ. Tuy nhiên, thí nghiệm này chắc chắn đã đưa cho chúng ta những nhận thức rất mới trong cách hiểu về thời gian.

Mặc dù cho tới nay du hành thời gian vẫn chỉ là một khái niệm khả thi trên lý thuyết, nhưng trong lịch sử cận đại, sử sách có ghi chép nhiều trường hợp bị nghi là những trường hợp du hành thời gian thực tế ngoài đời thực.

2 trường hợp du hành thời gian ngoài đời thực

Thống chế Không quân Hoàng gia Anh Victor Goddard du hành đến tương lai

Năm 1935, khi bay qua một sân bay bỏ hoang gần thành phố Edinburgh, Scotland, Thống chế Không quân Hoàng gia Anh Victor Goddard đã có một trải nghiệm kỳ lạ. Lúc đó khi nhìn xuống, ông chỉ thấy nhà chứa máy bay lấp đầy cỏ dại mọc um tùm xung quanh, trên đó có một đàn bò đang gặm cỏ, theo Message to Eagle.

Không lâu sau, một cơn bão ập đến. Sức gió mạnh mẽ đã kéo ông trở lại phía sân bay. Rồi nó nhanh chóng tan biến và khi ông bay trở lại sân bay đó, thì khu vực này trông rất mới với những máy bay được sơn màu vàng (đây là điều khác thường), một kiểu máy bay cánh đơn thuộc phi đội Không quân Hoàng gia, đồng thời những nhân viên sân bay ở đó toàn bộ đều mặc trang phục màu xanh lam (đây cũng là một điều bất thường, vì các nhân viên thường mặc trang phục màu nâu).

Tất cả những điều này vẫn là một bí ẩn cho tới bốn năm sau đó, khi Lực lượng Không quân bắt đầu sơn máy bay màu vàng, nhập về các kiểu máy bay ông Goddard từng nhìn thấy, và các thợ cơ khí bắt đầu chuyển sang mặc trang phục màu xanh lam.

Phải chăng ông Goddard đã bằng cách nào đó bay đến tương lai 4 năm, rồi nhanh chóng quay trở lại thời đại của mình?

Chứng kiến trước cuộc không kích trong tương lai

Trong cuốn sách về các sự kiện kỳ bí có tựa đề “The Little Giant Book of Eerie Thrills and Unspeakable Chills” của Ron Edwards, C. B. Colby, John Macklin, có kể về trường hợp phóng viên J.Bernard Hutton và Joachim Brandt được cử đi làm phóng sự về xưởng đóng tàu Hamburg ở Đức năm 1932.

Sau khi hoàn thành công việc, họ đột nhiên thấy bầu trời phủ đầy máy bay chiến đấu. Bom nổ, các tòa nhà sụp đổ và cả khu vực biến thành vùng chiến. Thấy vậy, Hutton và Brandt vội lên xe chạy trốn.

Máy bay Anh tấn công Hamburg năm 1943. (Ảnh: Imperial War Museums)

Tuy nhiên, khi đi được một quãng, họ dừng xe và quay đầu nhìn lại, và thấy rất sững sờ khi thấy mọi thứ vẫn bình thường, không thấy cảnh tượng không kích hỗn loạn khi trước. Càng ngạc nhiên hơn, họ đã chụp một số ảnh trong suốt cuộc không kích nhưng khi rửa ảnh, các bức ảnh cũng không cho thấy có điều gì bất thường. Tổng biên tập nghĩ rằng hai người này đã quá chén mà trở nên hoang tưởng.

Trước khi Thế chiến II bắt đầu, Bernard Hutton đã chuyển đến London. Năm 1943, ông ngạc nhiên khi đọc trên báo về một cuộc không kích của Không quân Anh vào xưởng đóng tàu Hamburg. Cảnh tượng trông y hệt những gì ông đã chứng kiến vào 11 năm trước.

PHẢI CHĂNG TRONG KHOẢNH KHẮC ĐÓ, HAI ÔNG ĐÃ TÌNH CỜ DU HÀNH ĐẾN TƯƠNG LAI 11 SAU ĐỂ TẬN MẮT CHỨNG KIẾN CUỘC KHÔNG KÍCH NÀY

Thiện Tâm & Quang Khánh

 

 

 

 

 

 

 

Linh cảm về tương lai: Rất nhiều người đã mơ thấy trước vụ tấn công ngày 11/9

Rất nhiều người đã có những linh cảm báo trước tai nạn sẽ xảy ra. Những trường hợp như vậy đã được ghi nhận trong vụ ám sát tổng thống Mỹ Lincoln, vụ chìm tàu Titanic cũng như trong vụ khủng bố ngày 11/9 gần đây nhất. Nguyên nhân đằng sau hiện tượng bí ẩn này là gì?

Ngày 21/10/1966, tại Aberfan, một ngôi làng nhỏ ở thung lũng miền Nam xứ Wales của nước Anh, 144 người đã bỏ mạng trong thảm họa sạt lở đất ở đập nước. Trong số các nạn nhân có 116 là trẻ em dưới 10 tuổi, điều này đã khiến Nữ hoàng Anh vô cùng đau buồn. Trước thềm thảm kịch này, một nạn nhân nhỏ tuổi đã có một giấc mơ báo trước về thảm họa sắp xảy ra đó.

Theo tờ Daily Mail của Anh đưa tin, do ảnh hưởng của mưa lớn vào thời điểm đó, đập hồ chứa chất thải khoáng sản của khu mỏ đã bị vỡ, khiến bùn đen, đất đá và nước trong đập chảy tràn vào một ngôi trường nhỏ và 20 căn nhà ở Aberfan. Thảm họa xảy ra khi hơn 100 em nhỏ đang quay trở lại lớp học, vừa đi vừa hát. Vài ngày trước khi xảy ra thảm họa, một trong số các nạn nhân, cô bé Eryl Mai Jones, đã nói với mẹ bé rằng:

“Con không sợ chết đâu, vì có Peter ở đó nữa”. (Christian St. Peter là bạn cùng lớp với cô bé)

Các nạn nhân trong thảm họa Aberfan. (Ảnh: IB Times UK)

Người mẹ đang bận rộn ấy chẳng hề để tâm đến lời đứa con gái nói. Một ngày trước khi thảm họa xảy ra, Eryl nói với mẹ rằng:

“Để con kể mẹ nghe về giấc mơ đêm qua nhé. Con mơ rằng mình tới trường, nhưng ngôi trường không còn ở đó nữa, vì có một thứ màu đen tràn xuống và đã chôn vùi cả ngôi trường rồi”.

Sau khi tai nạn xảy ra, chúng ta đều có thể hiểu được người mẹ đã hối hận như thế nào sau khi đưa cô con gái đến trường vào ngày hôm đó, và không kể câu chuyện của cô bé cho những người trong làng.

Câu chuyện trên là một ví dụ điển hình về việc con người có khả năng tiên đoán trước tương lai. Câu chuyện này được ghi nhận bởi Bác sĩ tiến sĩ Larry Dossey. BS Dossey là Bác sĩ trưởng tại Bệnh viện thành phố Dallas (Mỹ), kiêm sáng lập viên Hiệp hội Chẩn đoán Dallas, Biên tập viên kỳ cựu của Tạp chí Y học Thay thế, và là nguyên thành viên chủ chốt của Tổ chức Cải cách Sức khỏe và Y tế của Nguyên Đệ nhất Phu nhân Hillary Clinton. Bản thân ông cũng đã từng có những giấc mơ tiên đoán của riêng mình, và ông đã đề cập đến chúng trong cuốn “Healing Beyond the Body and The Power of Premonitions: How knowing the future can shape our lives. (Tạm dịch: Trị liệu bên ngoài thân thể và Sức mạnh của linh cảm: Tại sao việc biết trước tương lai có thể định hình cuộc sống của mỗi người)”.

Bác sĩ Larry Dossey và cuốn sách của ông. (Ảnh: Path Waves Show)

Tiên đoán về cuộc tấn công 11/9

BS Dossey cũng từng đề cập đến việc có rất nhiều người đã trải nghiệm giấc mơ tiên đoán trước về cuộc tấn công ngày 11/09/2001. Hai tuần trước khi sự kiện xảy ra, có một người phụ nữ đang đi du lịch tại thủ đô Washington DC cùng chồng. Lúc đó chồng cô đang lái xe còn cô thì ngủ thiếp đi ở ghế phụ. Khi mở mắt ra, cô nhìn thấy một cột khói đen dày đặc trên Lầu năm góc. Hai tuần sau, chuyến bay số 77 thuộc hãng hàng không American Airlines đã bị nhóm khủng bố al-Qaeda khống chế và đâm vào Lầu năm góc, gây thiệt mạng cho 184 người. Cột khói đen xuất hiện trong vụ khủng bố trông giống hệt như trong giấc mơ của cô.

Đài tưởng niệm vụ khủng bố 11/9. (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên)

Một người phụ nữ khác cũng có linh cảm tương tự. Một tuần trước khi sự kiện xảy ra, một phụ nữ sống tại bang Bắc Carolina đã bị chìm vào một vùng tối đen trong giấc mơ khi đang ngủ. Bất chợt bà nghe thấy tiếng một người đàn ông liên tục nhắc đi nhắc lại con số “2,830… 2,830…” và một cái tên nào đó nghe không rõ ràng. Sau khi tỉnh dậy, bà ngay lập tức hủy chiếc vé đi Disneyland vào ngày 9/11 bất chấp sự phản đối gay gắt của gia đình bà đối với quyết định vô lý này.

Người phụ nữ cho biết cái tên bà nghe được gần giống như Rooks hoặc là Horrocks. Một tuần sau, khi cuộc khủng bố ngày 11/9 diễn ra, hai chiếc máy bay đã đâm thẳng vào Trung tâm Thương mại Thế Giới.

Trùng hợp làm sao, con số 2,830 được lặp đi lặp lại trong giấc mơ của bà, lại chính là con số người chết được đưa tin. Cái tên bà nghe thấy trong giấc mơ hóa ra là Michael Horrocks, phi cơ phụ lái trong chuyến bay số 175 của Hãng Hàng không United Airlines đã đâm vào tòa tháp phía Nam của Trung tâm Thương mại Thế giới.

Cảnh tượng máy bay đâm vào Tòa tháp đôi vào ngày 11/9/2001. (Ảnh: Ucan.vn)

Còn rất nhiều dẫn chứng đau buồn khác, như một nhân viên trong tòa nhà này, là ông Lawrence Boisseau. Ông đã có một giấc mơ trước đó trong tháng 9 rằng Trung tâm Thương mại Thế giới sẽ sụp đổ ngay bên cạnh ông. Vài ngày sau đó, vợ ông mơ thấy rất nhiều mảnh vỡ rơi tung tóe trên đường phố Manhattan. Nhưng giấc mơ đó không đủ kinh hãi để khiến ông cảm thấy rằng mình nên nghỉ việc. Ngày 11/9, ông đã qua đời sau khi giải cứu vài đứa trẻ bị mắc kẹt trong tầng hầm một nhà trẻ bên trong tòa tháp thương mại.

Dự cảm khiến người ta tránh được tai nạn

Đôi khi, linh cảm cho phép con người biết được chính xác thời gian và địa điểm để có thể tránh được tai nạn. Dossey đã trích dẫn một ví dụ. Một bà mẹ sống tại bang Washington bỗng tỉnh giấc vào 2:30 đêm. Bà mơ thấy chiếc đèn chùm rất to rơi trúng người con trai bà đang nằm trong nôi.

Trong giấc mơ, đó là lúc 4:35 sáng và ngoài trời đang bão rất lớn. Người mẹ choàng tỉnh giấc và cảm thấy rất kinh sợ. Ngay lập tức bà sang phòng bên và ôm lấy đứa con mang về phòng mình. Hai tiếng sau, hai vợ chồng bị tỉnh giấc bởi một tiếng động mạnh, họ liền chạy ngay sang phòng đứa trẻ và thấy chiếc đèn chùm đã rơi xuống. Thời điểm lúc đó là 4:35 và ngoài trời đang có cơn bão rất lớn.

Không phải toàn bộ các giấc mơ tiên tri về các sự kiện tương lai đều rõ ràng. Trên thực tế, điểm chung của các linh cảm thường là rời rạc và mơ hồ.

Một nghiên cứu rất nổi tiếng vào năm 1950 đã chỉ ra rằng số lượng hành khách trên những chuyến tàu hỏa gặp tai nạn thường thấp hơn so với những chuyến tàu chỉ ngay trước đó một tuần trước. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, có thể các hành khách đã dự cảm được về vụ tai nạn sẽ xảy ra nên đã thay đổi lịch trình của mình.

Trước khi con tàu Titanic ra khơi vào năm 1912, rất nhiều hành khách đã có một linh cảm không may về con tàu này. Vào lúc đó, người giàu nhất thế giới, tỷ phú JP Morgan, đã hủy vé tàu của mình vào phút chót do linh tính mách bảo. Và thật trùng hợp làm sao, tỉ lệ ghế trống của 4 chuyến bay xảy ra tai nạn vào ngày 11/9 cũng rất cao.

Hình minh họa vụ chìm tàu Titanic. (Ảnh: Universal Images Group/Getty Images)

Chiếc Boeing 757 đâm vào Lầu năm góc chỉ có 64 hành khách trên tổng số 289 chỗ ngồi. Hai chiếc khác đâm vào tòa tháp phía Bắc và Nam của Trung tâm Thương mại Thế giới cũng lần lượt có tỉ lệ ghế trống chiếm đến 74% và 81%. Tỷ lệ hành khách trung bình trên bốn chiếc máy bay đó chỉ chiếm có 24%.

Theo kênh ABC, một nghiên cứu năm 2012 đã chỉ ra rằng con người có khả năng tiên đoán trước tương lai. Thông qua nghiên cứu dữ liệu thu thập được từ 26 thí nghiệm và nghiên cứu tâm lý học chủ lưu, nhà khoa học thần kinh thuộc Đại học Northwestern (Mỹ) Julia Mossbrige nhận định, khi mọi người nhận thức được những gì sắp xảy ra, các bộ phận cơ thể như tim, não và da sẽ có phản ứng tương xứng.

Tổng thống Mỹ Lincoln và giấc mơ về cái chết của mình

Rất nhiều người đã nhìn thấy được tương lai của họ trong giấc mơ của mình. Có lẽ giấc mơ tiên đoán cái chết nổi tiếng nhất chính là của Tổng thống Mỹ Lincoln.

Vào ngày 13/04/1865, Lincoln đã mơ thấy mình bước vào Nhà Trắng như thường lệ nhưng quang cảnh hôm đó trông rất nghiêm trọng và mọi người đều tỏ ra buồn bã. Sau khi hỏi chuyện, ông được các lính canh bảo rằng:

“Tổng thống đã bị ám sát rồi”.

Ngày hôm sau, Lincoln tỉnh dậy và kể với vợ mình về giấc mơ. Vào ngày thứ ba tính từ hôm đó, ông đã bị ám sát và giấc mơ đó đã trở thành hiện thực.

Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln. (Ảnh: reddit.com)

Nhà vô địch quyền anh hạng nặng người Mỹ Robinson cũng có trải nghiệm tương tự. Trước giải vô địch quyền anh năm 1947, anh đã mơ thấy rằng mình sẽ lỡ tay giết chết đối thủ. Anh cảm thấy không ổn vì điều này và muốn rút khỏi khỏi cuộc đấu. Huấn luyện viên và ban tổ chức nghĩ rằng điều này quá vô lý nên đã cố gắng thuyết phục anh ấy tiếp tục đến cùng. Kết quả là, sau vòng thứ tám của trận đấu, Robinson đã hạ gục đối thủ, và quả thực, người đó đã chết vào ngày hôm sau.

Sugar Ray Robinson. (Ảnh: Pinterest.com)

Các nghiên cứu của Bác sĩ Weiss

Trao đổi với Đại Kỷ Nguyên, bác sỹ Tiến sỹ Brian L. Weiss, chuyên gia trị liệu bằng liệu pháp “hồi quy tiền kiếp” nổi tiếng nhất thế giới, cho biết một số người có thể mơ thấy trước tương lai. Khi đó những gì xảy đến trong tương lai thường sẽ xảy ra ứng với giấc mơ của họ.

Bs Brian Weiss. (Ảnh: soundcloud.com)

Rồi ông ấy bắt đầu tiến hành nghiên cứu về tương lai. Ông cho biết:

“Là một nhà khoa học, lĩnh vực nghiên cứu của tôi là cơ chế vận hành của ý thức, làm thế nào để kiểm soát mọi thứ. Do đó, tâm lý học hiện đại cần phải hiểu được tại sao mọi người có thể mơ trước tương lai, hay còn gọi là giấc mơ tiên tri. Đó là lý do tại sao tôi bắt đầu hướng dẫn mọi người sử dụng Liệu pháp Tiến tới Tương Lai (Future Life Progression therapy) [1], để hướng mọi người đến tương lai”.

“Khi tôi đọc các tác phẩm của các nhà thiên văn học hiện đại và các cuốn sách khoa học khác, tôi thấy công việc mà họ và tôi đang làm đều khá giống nhau. Bởi vì họ cũng đang thảo luận về các không gian song song (hay vũ trụ song song), việc có thể dự đoán được hay không về Tương lai hữu hình, về Vũ trụ giãn nở, về Không gian Vô hạn. Với công việc của mình, tôi thấy rằng những điều này rất giống với những gì được mô tả trong quá trình thôi miên bệnh nhân trong điều trị. Sự khác biệt duy nhất là bệnh nhân của tôi không sử dụng những công thức toán học khi mô tả chúng, nhưng họ và các nhà vật lý học theo thuyết Siêu dây đều mô tả về cùng một thời điểm, cùng một tình huống và cùng một khái niệm”, BS Weiss nhận định.

Vũ trụ toàn ảnh

Trong cuốn sách Holographic Universe (Tạm dịch: Vũ trụ toàn ảnh) của Michael Talbot xuất bản năm 1991, tác giả đã kể lại câu chuyện về một nhà ngoại cảm người Hà Lan – Croiset, người có khả năng nhìn thấy quá khứ và tương lai. Rất nhiều nhà nghiên cứu ở Châu Âu và Mỹ đã thực hiện một bài kiểm tra “Ghế ngồi” vô cùng nghiêm khắc dành cho ông.

(Ảnh: Nhà xuất bản Trẻ)

Người làm thí nghiệm trước tiên chọn ngẫu nhiên một chiếc ghế trong sảnh một hội trường ở một nơi nào đó sắp tổ chức một sự kiện công khai. Hội trường này có thể ở bất cứ thành phố nào trên thế giới, và họ chỉ chọn những sự kiện nào mà không có chỗ ngồi được đặt trước (để đảm bảo tính ngẫu nhiên, không thể đoán định). Sau đó, trong bối cảnh không cho Croiset biết tên hay địa điểm của hội trường, hay bản chất của sự kiện này là gì, người làm thí nghiệm sẽ yêu cầu nhà ngoại cảm người Hà Lan miêu tả người sẽ ngồi tại cái ghế trong sự kiện buổi tối đó. Trong suốt 25 năm lặp lại thí nghiệm này, Croiset đã vượt qua được tính bất khả thi của bài kiểm tra ghế ngồi và gần như lần nào cũng có thể đưa ra dự đoán chi tiết và chính xác về giới tính, hình dáng khuôn mặt, trang phục, nghề nghiệp và thậm chí cả những sự kiện xảy ra trong quá khứ của người sẽ ngồi vào chiếc ghế đó.

Lấy ví dụ, vào ngày 6/1/1969, giáo sư tâm thần học lâm sàng Jule Eisenbud từ Đại học Colorado (Mỹ) đã có cuộc thử nghiệm với Croiset. Ông nói với Croiset rằng ông đã chọn một chỗ ngồi tại một sự kiện vào ngày 23/1/1969. Croiset, lúc đó đang ở Hà Lan, đã nói với giáo sư Eisenberg rằng người sẽ ngồi ở ghế đó là một người đàn ông cao 1 mét 75, có mái tóc đen chải ngược và một chiếc răng vàng ở hàm dưới, có một vết sẹo trên ngón chân cái, làm việc trong ngành công nghiệp và cả trong ngành khoa học. Ngoài ra, Croiset còn bảo rằng, người đàn ông này có có chiếc áo choàng dùng trong phòng thí nghiệm đôi lúc bị vấy bẩn bởi hóa chất màu xanh lục. Dự đoán này sau đó đã được xác nhận là chính xác, và đây là một sự kiện ở Denver, bang Colorado, Mỹ. Croiset trước đó không hề được cho biết về địa điểm diễn ra sự kiện. Và đây chỉ là một trong vô số các trường hợp thử nghiệm thành công.

Dường như mọi thứ xảy ra trong quá khứ và những gì xảy ra trong tương lai đều được vũ trụ ghi lại hoàn chỉnh dưới dạng hình ảnh ba chiều tại một không gian khác, và một số người có thể nhìn thấy những sự kiện như vậy trong một hoàn cảnh đặc thù nào đó. Đối với nguyên nhân và tầm quan trọng của loại hiện tượng này, nếu bạn chỉ khám phá và giải thích từ góc độ của các công năng đặc dị cụ thể, người khác có thể sẽ cảm thấy rất khó hiểu và bối rối. Nhưng nếu bạn đặt hiện tượng này trong một bức tranh tổng thể rộng lớn hơn của sự Luân hồi, mọi thứ đều sẽ trở nên hợp lý.

Chú thích của người dịch:
[1] Liệu pháp Tiến tới Tương lai là một liệu pháp mơ tỉnh. Trong đó người trải nghiệm sẽ tiến nhập vào trạng thái thôi miên, một trạng thái sâu lắng nhưng hoàn toàn tỉnh táo, cho phép mở tâm trí người trải nghiệm trước những tiềm năng có thể trong tương lai. Khác với Liệu pháp Hồi quy Tiền kiếp, vốn tập trung vào quá khứ của một cá nhân và các sự kiện nhất định xảy ra trong nửa đời trước, hoặc các kiếp trước, và ảnh hưởng của chúng đối với việc định hình niềm tin và cuộc sống của bạn ngày hôm nay, liệu pháp Tiến tới Tương lai đưa bạn xuôi thời gian đến một nơi mà bạn có thể tự do khám phá tất cả các viễn cảnh tiềm năng trong tương lai bắt nguồn từ trí tưởng tượng của chính bạn và các đường hướng mà bạn chọn để khám phá.

Lam Lam biên dịch

 

Rác thải của con người đã ô nhiễm đến nơi tận cùng của Trái Đất

Một nhà thám hiểm người Mỹ đã lái tàu ngầm xuống vùng biển sâu nhất dưới đáy đại dương. Bên cạnh những khám phá mới về các loài sinh vật vô danh kỳ lạ, ông còn tìm thấy rác thải của con người.

Victor Vescovo, một nhà thám hiểm người Mỹ, đã lặn xuống phần sâu nhất của Trái Đất, chạm đáy Vực thẳm Challenger tại rãnh Mariana (Vực thẳm này nằm ở Thái Bình Dương, ở cuối phía nam của rãnh Mariana gần nhóm đảo Mariana), phá vỡ kỷ lục do người giữ giải vàng Oscar, đạo diễn phim “Titanic” James Cameron thiết lập vào năm 2012. Nhưng chưa kịp vui mừng, ông đã thất vọng khi thấy rằng con người rốt cục đã làm ô nhiễm đến tận cùng vùng đất tinh khiết cuối cùng trên hành tinh.

Vị trí vực thẳm Challenger (chấm đỏ) trong rãnh Mariana . (Ảnh: Wikipedia)
Các sinh vật biển bơi xung quanh con tàu của Viscovo. (Ảnh: Reuters)

Theo thông tin từ CNN, thử thách của Vescovo nằm trong chương trình “Cuộc thám hiểm 5 vực sâu (Five Deeps Expedition)” được trình chiếu trên kênh “Discovery Channel”. Mục đích của chương trình này chính là chạm đến những địa điểm sâu nhất của 5 đại dương lớn trên Trái Đất, bao gồm rãnh Mariana, để tiến hành vẽ bản đồ chi tiết những khu vực này bằng sóng siêu âm.

Nhà thám hiểm Victor Vescovo. (Ảnh: gcaptain.com)

Vescovo, 53 tuổi, đã lái chiếc tàu ngầm mang tên “The Limiting Factor” từ ngày thứ nhất cho đến khi tiếp cận và lặn xuống được Vực thẳm Challenger thuộc rãnh Mariana nhiều lần. Tại đây ông đã lập được kỷ lục mới về mức độ lặn sâu của con người, đạt độ sâu 10.927 mét và duy trì tại đó trong suốt 4 giờ đồng hồ (dưới sức ép khủng khiếp của áp suất bên ngoài). Trong quá trình thám hiểm, ông đã phát hiện ra nhiều sinh vật biển quý hiếm, bao gồm 4 loài động vật giáp xác chưa được biết đến, một con nhím biển và một con cá sư tử . Tuy nhiên, ông còn phát hiện ra rác thải của con người.

Một loài sứa mới được phát hiện vào ngày 16/4/2019 ở Rãnh Java, Ấn Độ Dương trong chuyến thám hiểm của Vescovo. (Ảnh: Tàu ngầm Triton)
Song song với đó, ông còn phát hiện một cái có vẻ như là túi giấy ni-lông tại đây. (Ảnh: Dibujos Para Colorear)

Vescovo nói: “Đây không phải là điều bất ngờ. Khi nói vậy, tôi muốn nói rằng thật đáng thất vọng khi nhìn thấy sự ô nhiễm đã lan đến tận nơi sâu thẳm nhất của đại dương”.

Kênh CNN cho biết Vescovo đã tìm thấy túi nhựa và vỏ kẹo ở Vực thẳm Challenger. Còn theo kênh Reuters, bà Stephanie Fitzherbert, phát ngôn viên của chương trình “Cuộc thám hiểm 5 vực sâu” nói rằng, họ đã thực sự tìm thấy rác dưới đáy biển. Và hiện tại, họ đang xác mình xem liệu nó có phải là một chiếc túi nhựa hay không.

Tàu ngầm “The Limiting Factor” (Nguồn: digitaltrends.com)

Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, hiện có tới 100 triệu tấn chất thải nhựa trong đại dương, rất nhiều trong số chúng đã bị các loài động vật biển ăn phải. Nghiên cứu mới nhất đã phát hiện ra rằng ngay cả động vật dưới đáy biển sâu cũng không thể thoát khỏi ô nhiễm chất thải của con người.

Rãnh Mariana nằm ở phía đông bắc Philippines, nằm sâu hơn điểm cao nhất của đỉnh Everest (so với mực nước biển). Đây là lần thứ ba con người tiến vào rãnh Yana ở Somalia. Lần đầu tiên là vào năm 1960, các nhà thám hiểm Thụy Sĩ và Mỹ đã dùng tàu ngầm tiếp cận Vực thẳm Challenger. Họ đã ở lại độ sâu 10.916 mét trong vòng 20 phút. Lần thứ hai ghi dấu ấn của đạo diễn Cameron, người đoạt giải vàng Oscar vào năm 2012. Vào tháng 3 năm đó, ông đã một mình lái tàu ngầm và lưu lại hơn 3 giờ đồng hồ tại Vực thẳm Challenger ở độ sâu 10.898 mét.

Theo zhengjian.org 
Hoán Tỉnh biên dịch

 

 

Liên Hợp Quốc: Hàng tỷ người sẽ đối mặt với tình trạng thiếu nước vào năm 2050

Một báo cáo của Liên Hợp Quốc cảnh báo rằng 5 tỷ người trên toàn thế giới có thể bị thiếu nước sinh hoạt vào năm 2050.

Một số yếu tố được cho là nguyên nhân chính như nhu cầu sử dụng nước gia tăng, nguồn cung bị ô nhiễm và tình trạng biến đổi khí hậu.

Cuộc khủng hoảng cận kề


Động vật không thể tiếp cận nguồn nước sạch do các dòng sông bị ô nhiễm. (Ảnh: pixabay / CC0 1.0 )

Theo ước tính, con người sử dụng gần 4600 kilomet khối nước hàng năm, 70% trong số đó để phục vụ cho mục đích nông nghiệp, 20% được tiêu thụ bởi các ngành công nghiệp, và chỉ có 10% được tiêu thụ trực tiếp bởi con người. Như vậy, riêng việc kiểm soát quá trình sử dụng nước trong nông nghiệp đã có thể giải quyết cuộc khủng hoảng nước ở hầu hết các quốc gia. Một số phương pháp có thể cho phép nông dân cắt giảm việc sử dụng nước từ 50% trở lên. Báo cáo cho rằng ngành nông nghiệp nên tập trung vào các giải pháp truyền thống dựa vào thiên nhiên thay vì các phương pháp hiện đại khi xử lý nước.

Theo The Guardian , trong báo cáo nghiên cứu có đoạn:

“Trong một thời gian dài, thế giới đã dựa vào các cơ sở hạ tầng nhân tạo để cải thiện việc quản lý nước. Phương thức này thường sẽ khiến những kiến ​​thức truyền thống và bản địa gắn liền với các phương pháp tiếp cận xử lý nước xanh hơn bị “cho ra rìa”. Trước mức độ tiêu dùng tăng tốc, suy thoái môi trường và các tác động đa dạng của biến đổi khí hậu, rõ ràng chúng ta cần những cách thức mới để quản lý nhu cầu cạnh tranh đối với các nguồn tài nguyên nước ngọt”.

Trong thế kỷ qua, nhu cầu tiêu dùng nước đã gia tăng 600%. Ngày nay, sự tăng trưởng của nhu cầu này là 1% mỗi năm. Đến năm 2050, dân số toàn cầu sẽ nhảy vọt lên 9,4 tỷ so với con số 7,7 tỷ người hiện tại. Trong số này, khoảng 4,8 tỷ đến 5,7 tỷ người sẽ bị buộc phải sống ở những khu vực khan hiếm nước trong ít nhất một tháng mỗi năm. Đồng thời, gần 1,6 tỷ người sẽ phải đối mặt với nguy cơ lũ lụt.

Ô nhiễm là một vấn đề lớn khác. Mỗi con sông lớn ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đều bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm. Do các khu vực này chưa phát triển được một cách thức toàn diện để đối phó với nước thải của các ngành nông nghiệp và công nghiệp, ô nhiễm của các dòng sông vẫn tiếp tục gia tăng. Với việc gần 80% nước thải đô thị và công nghiệp đang thải ra mà không được xử lý đúng cách, một số dòng sông sẽ sớm trở nên cực kỳ ô nhiễm. Điều này sẽ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học ở khu vực xung quanh các con sông khi động vật không thể tiếp cận với nước sạch.

Trao đổi với Market Watch , ông Audrey Azoulay, tổng giám đốc UNESCO, cho biết:

“Xu hướng hiện tại cho thấy khoảng hai phần ba rừng và đất ngập nước đã bị mất hoặc suy thoái kể từ đầu thế kỷ 20. Đất đai đang bị xói mòn và suy giảm chất lượng”.

Mối đe dọa tới thế giới Ả Rập


Nguồn nước sông Nile đang bị ô nhiễm nhanh chóng. (Ảnh: pixabay / CC0 1.0 )

Khu vực Bắc Phi và Trung Đông là một trong những khu vực bị đe dọa nhiều nhất khi khan hiếm nước. Tỷ lệ bình quân đầu người tiếp cận được nước ngọt trong khu vực chỉ bằng 10% mức trung bình toàn cầu. Tỷ lệ này dự kiến thậm chí ​​sẽ giảm xuống một nửa vào năm 2050. Sa mạc hóa và biến đổi khí hậu chỉ khiến tình hình tồi tệ hơn. Ông Jose Graziano da Silva, Tổng Giám đốc Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc tin rằng tình trạng thiếu nước là một “vấn đề khẩn cấp” của cả khu vực. Trao đổi với Reuters ông nói:

“Không thể tin được rằng khu vực này lại không có một sự quản trị tốt trong lĩnh vực quản lý nước và quản lý đất đai… [Ở Ai Cập] họ có 32 bộ trưởng. Có lẽ hầu hết trong số 32 bộ trưởng đó, thì có tới 30 bộ trưởng đang đối phó với vấn đề nước sạch – nước là một vấn đề lớn đối với họ. Và họ không có giải pháp nào để phối hợp một cách hiệu quả hơn”.

Khoảng 97% lượng nước được sử dụng ở Ai Cập đến từ con sông Nile danh tiếng. Tuy nhiên, nguồn nước đang bị ô nhiễm nhanh chóng bởi chất thải dân dụng và nông nghiệp. Theo Liên Hợp Quốc, tình trạng thiếu nước nghiêm trọng sẽ tấn công nước này vào năm 2025. Tại Iran, nơi người dân tiêu thụ lượng nước nhiều gấp ba lần so với mức trung bình của thế giới, cuộc khủng hoảng nước dự kiến ​​sẽ lên đến đỉnh điểm vào năm 2030.

Theo VisionTimes
Nhật Quang biên dịch

 

Nhà hiền triết Ấn Độ cổ đại tiên đoán chính xác trên Sao Hỏa có nước

 

Chàng thanh niên Ucraina du hành xuyên thời gian từ năm 1958 đến năm 2006

Một chàng trai trẻ với giấy tờ tùy thân cho thấy đã ở tuổi 74 bất ngờ xuất hiện trên đường phố Kiev và bất ngờ biến mất trong phòng biệt giam của cảnh sát Ucraina, khiến nhiều người tin rằng anh ta có khả năng du hành thời gian.

Khoảng không gian trong vũ trụ vẫn còn rất nhiều bí ẩn mà cho tới tận bây giờ các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu  mà chưa khám phá thấu tỏ được. Trong rất nhiều bộ phim khoa học viễn tưởng đã nhắc đến các đường hầm ánh sáng có thể vượt qua thời gian, giúp chúng ta quay trở về quá khứ hoặc du hành đến tương lai. Và không chỉ có trong tưởng tượng, rất nhiều những trường hợp du hành vượt thời gian đã được chứng minh từng diễn ra trong thực tế?

Chàng trai trẻ chỉ có 25 tuổi, mặc dù sinh năm 1932

Vào ngày 23 tháng 4 năm 2006, chàng thanh niên Sergey Ponomarenko xuất hiện trên đường phố của thủ đô Kiev, Ukraina. Sergey đang mặc một bộ trang phục lỗi thời từ thời Liên Xô, cầm một chiếc máy ảnh cổ điển trên tay và đi trên đường với vẻ khó hiểu.

Hành động của Sergey ngay lập tức thu hút sự chú ý của cảnh sát. Họ bước tới và yêu cầu Sergei xuất trình giấy tờ tùy thân. Kết quả, họ đã bị đã bị sốc trước những gì được xem. Đó là những giấy tờ được Liên Xô cũ sử dụng trong những năm 1950 có ghi tên Sergey Ponomarenko, sinh ra ở Kiev năm 1932. Tức là, trước mặt hai viên cảnh sát là một người 74 tuổi trong hình dáng của một thanh niên mới ở độ tuổi đôi mươi.

Giấy tờ của Sergey từ thời Liên Xô cũ (Ảnh: bannedbook.org)

Sergey đã giải thích danh tính của mình cho cảnh sát, nhưng càng giải thích, cảnh sát càng thấy vô lý. Họ nghĩ rằng Sergei có vấn đề về thần kinh và đã đưa anh ta đến Bệnh viện Tâm thần Kiev, đồng thời mời nhà tâm lý học, tiến sĩ Pablo Krutikov đến giúp đỡ xem xét vấn đề và tiến hành một cuộc điều tra.

Gặp vật thể bay không xác định UFO

Sergey bước vào văn phòng của Tiến sĩ Krutikov, cẩn thận quan sát mọi thứ xung quanh và phát hiện chiếc đồng hồ treo tường trong văn phòng đã không hoạt động. Ông hỏi tiến sĩ bây giờ là mấy giờ. Vị tiến sĩ nhìn vào chiếc đồng hồ đeo tay Thụy Sĩ của ông ta và phát hiện ra chiếc đồng hồ đeo tay cũng không hoạt động. Chiếc đồng hồ đeo tay và đồng hồ treo tường đều dừng lại lúc 12:32.

Sergey nói với Tiến sĩ rằng ông được sinh ra ở Kiev vào năm 1932, năm nay 25 tuổi và cảm thấy kì quặc khi mọi thứ xung quanh đã đổi khác và người ta cứ nói rằng đã là năm 2006. Tiến sĩ Paul đã hỏi Sergey chuyện gì đã xảy ra?

Sergey bước vào văn phòng của Tiến sĩ Krutikov (Ảnh: infinityexplorers.com)

Theo Sergey, đó là một ngày nghỉ, anh đã nghĩ đến việc bước ra khỏi nhà đi bộ và chụp vài bức ảnh trong trung tâm thành phố. Sergey cầm máy ảnh lên và đi ra ngoài. Sau khi đi được vài bước anh đã nhìn thấy một vật thể bay kỳ lạ trên bầu trời, giống như một chiếc đồng hồ lớn kỳ lạ, trôi nổi. Đó là lần đầu tiên Sergey nhìn thấy vật thể bay kỳ lạ như vậy và đã tiếp cận nó để chụp ảnh. Sergey yêu cầu vị tiến sĩ kiểm tra cuộn phim để chứng minh điều ông nói đó là sự thật.

Vật thể bay không xác định là một chiếc đĩa bay

Tiến sĩ Krutikov đã mời một chuyên gia nhiếp ảnh tên là Wajim Vadim Pozner giúp ông ta kiểm tra tính chân thực của cuộn phim trong chiếc máy ảnh.

Máy ảnh Yashimaflex. (Ảnh: Epoch times)

Wajim nói rằng loại phim trong máy ảnh này đã bị ngừng sản xuất vào những năm 1970. Đó là loại máy ảnh Yashimaflex, được sản xuất bởi Tập đoàn Yashima của Nhật Bản. Cũng có những nhiếp ảnh gia có sở thích sưu tập máy ảnh cũ, nhưng mức độ bảo quản không tốt bằng chiếc máy của Sergey, vì máy ảnh của anh ta gần như mới tinh.

Tiếp theo, họ đã cho rửa những bức ảnh và một lần nữa kinh ngạc khi phát hiện rằng thật sự có một “vật thể bay không xác định” như Sergey nói trong bức hình. Nó rất lớn và lơ lửng trong không trung, đó là chiếc đĩa bay mà mọi người thường nói.

Bức ảnh chụp UFO trong máy của Sergey (Ảnh: http://ericbelieveitornot.blogspot.com)

Những bức ảnh này đã chứng minh rằng Sergey không nói dối. Anh ta chỉ không biết cuối cùng thì chuyện gì đã xảy ra. Sergey nói rằng khi anh chụp bức ảnh này, anh ta đã rất sợ hãi vì lần đầu tiên anh nhìn thấy một vật thể bay kỳ lạ như vậy. Anh định đi tìm nơi ẩn nấp nhưng chỉ sau một cái quay người, anh chợt nhận ra rằng đằng sau anh ta đã hoàn toàn là một thế giới khác, mọi thứ đã hoàn toàn biến đổi, kể cả con đường lúc đầu anh đi qua.

Sau khi xem xét cẩn thận, tiến sĩ Krutikov tin rằng bức ảnh là có thật và UFO ở trên là một chiếc đĩa bay và chính nó đã khiến Sergey rơi vào vòng xoáy thời gian khiến anh ta bị dịch chuyển từ quá khứ đến hiện tại.

Cuộn phim vẫn mới sau gần 50 năm

Vị tiến sĩ và các chuyên gia đã xem xét các bức ảnh được chụp trước đó của Sergey. Khung cảnh đường phố ở Kiev, có khá nhiều sự khác biệt với đường phố hiện đại, và góc bên phải của bức ảnh khung cảnh được cho là vào những năm “1958”.

Các cuộn phim thông thường có thể được lưu trữ trong hai hoặc ba năm. Nếu được lưu trữ ở nhiệt độ đóng băng, thì có thể kéo dài thời gian sử dụng trong khoảng 20 năm, nhưng nó phải được niêm phong và đặt ở nơi tránh nhiệt và độ ẩm, bảo quản khô ráo ở nhiệt độ thấp để kéo dài tuổi thọ của cuộn phim.

Chàng trai trẻ 25 tuổi, Sergey Ponomarenko. (Ảnh: e-wiki.org)

Những cuộn phim năm 1958 của Sergey tuy được rửa vào năm 2006, nó còn rất mới và không hề vị hư hỏng. Các chuyên gia nhiếp ảnh cũng không thể giải thích hiện tượng này. Nếu như không phải cuộn phim đã du hành thời gian thì nó ắt phải được bảo quản rất tốt trong một môi trường cụ thể nào đó.

Thêm một đầu mối kiểm định thông tin khi các nhà nghiên cứu tìm thấy một vài người trẻ trong các bức ảnh. Người đàn ông chính là Sergey, còn người phụ nữ là bạn gái của anh ta, Valentina Curish. Chiếc áo mà Sergey trong bức ảnh hoàn toàn giống với chiếc áo anh ta đang mặc năm 2006.

Người thanh niên trẻ tuổi đã biến mất một cách bí ẩn, không dấu vết

Vào ngày 25 tháng 4 năm 2006, Sergey trở lại phòng sau khi nói chuyện với vị tiến sĩ lần cuối. Bởi vì sự việc quá kỳ lạ nên vị tiến sĩ cần thời gian tự mình sắp xếp lại các sự việc đã xảy ra. Ông không biết liệu mình có nên tin rằng chàng trai trẻ này đến từ năm 1958 hay không.

Sau khi Sergey trở về phòng được một lúc thì các nhân viên y tế phát hiện Sergey đã biến mất. Cảnh sát kiểm tra camera và chắc chắn rằng anh ta đã đi vào phòng và không ra ngoài.

Các nhân viên y tế nói rằng cửa sổ của các phòng bệnh đều được hàn rất cẩn thận. Ngay cả khi cửa sổ mở thì anh ta cũng không thể nhảy ra ngoài vì có hàng rào sắt được hàn phía bên ngoài cửa sổ. Thế nhưng bằng cách nào đó Sergey đã biến mất.

Những đồn đoán tựu lại chỉ có một khả năng là Sergey đã trở lại niên đại của mình. Người phụ nữ trong bức ảnh, bạn gái của Sergey, nếu cô ấy còn sống thì sẽ là đầu mối duy nhất và là nhân chứng lịch sử duy nhất cho sự việc này.

Cảnh sát đã rất may mắn khi tìm thấy Valentina. Năm 2006, Valentina đã 74 tuổi. Valentina đã mở album ảnh của mình, trong đó có một bức ảnh chụp cùng với Sergey. Bức ảnh này được chụp vào năm 1958, giống hệt như bức ảnh được chụp trong máy ảnh của Sergey vào năm 2006. Khi đó, Valentina đã rất ngạc nhiên và hỏi tiến sĩ Krutikov rằng ông tìm được bức ảnh này ở đâu. Valentina đã chứng minh được tính xác thực của bức ảnh.

Theo Valentina, Sergey từng nói với cô rất nhiều điều kỳ quái, rằng có thể nhìn thấy tương lai và mô tả cho cô nghe chiếc lò vi sóng trong tương lai. Nó chỉ sử dụng điện, rất thuận tiện và có thể nấu thức ăn ngon trong vài phút. Tuy nhiên, mãi đến nhiều năm sau, khi Valentina sử dụng lò vi sóng, cô mới chợt nhớ ra những lời của Sergey. Không biết trước đó bằng cách nào mà anh ta biết đến lò vi sóng.

Tìm kiếm thêm các tài liệu lưu trữ Quốc gia, nhóm chuyên gia điều tra đã tìm thấy một bản ghi âm của Đài phát thanh Kiev năm 1960, đây là một chương trình trò chuyện khoa học viễn tưởng. Trong bản ghi âm, Sergey đã được đài phát thanh phỏng vấn. Ông nhắc đến về sự phát triển của công nghệ trong 40 năm sau và đề cập đến các thiết bị công nghệ như lò vi sóng, điện thoại không dây (điện thoại di động) và trái tim nhân tạo. Sergey đã nói về thế giới sau 40 năm có thể tạo ra những trái tim nhân tạo bằng cách sử dụng pin để mô phỏng các xung điện tự nhiên của cơ thể con người. Khi đó, người dẫn chương trình phát thanh đã bị sốc và nói với Sergey “Nếu bạn không nói những chi tiết này, tôi chắc chắn sẽ nghĩ bạn bị điên.”

Năm 2006, Valentina đã 74 tuổi và bà đã chứng minh tính xác thực của bức ảnh. Valentina nói rằng sau khi Sergei mất tích vào năm 1958, một thời gian sau anh xuất hiện trở lại và kể cho cô nhiều điều kỳ quái. (Ảnh: epochtimes.com)

Khi nghe Sergey nói về trái tim nhân tạo, đội điều tra đã bị sốc, bởi những thuật ngữ mà anh sử dụng là những từ ngữ rất hiện đại. Vào thời điểm đó, ngành cấy ghép của Liên Xô vẫn chưa ra đời, ngay cả các bác sĩ cũng chưa từng nghe đến lĩnh vực này.

Phát lại thước phim năm 2006, Sergey, người bị nghi ngờ đến từ năm 1958, ngồi bên ngoài văn phòng trước khi chờ gặp bác sĩ Krutikov. Anh ta đã quan sát việc sử dụng lò vi sóng và các bài báo của nhân viên y tế có nội dung liên quan đến trái tim nhân tạo. Sergey cũng đã nhiều lần hỏi nhân viên y tế về chiếc điện thoại vô tuyến. Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã suy đoán rằng Sergey có thể mang những thông tin mà anh nhìn thấy vào năm 2006 trở lại Liên Xô cũ.

Du hành vượt thời gian đến nay vẫn còn là một chủ đề bí ẩn đang được khám phá. Kết quả khám phá và nghiên cứu của các học giả giống như đang mở ra một tấm cửa sổ, hé lộ những điều kỳ diệu của thế giới. Và mặc dù khó khăn nhưng chúng ta có thể tin tưởng rằng một ngày nào đó, bí mật của cánh cửa thời gian sẽ dần dần được tiết lộ.

Hoài Anh

 

 

 

 

Nghiên cứu: Động vật biết đau, thực vật cũng vậy

Có một câu chuyện cổ dân gian ở quần đảo Solomon như sau: nếu có cây cổ thụ cần đốn hạ nhưng lại quá to lớn không thể chặt bằng rìu, người dân nơi này vẫn có thể hạ nó xuống mà không cần dùng đến rìu. Vậy họ đã làm cách nào?

Dân làng tụ tập lại và la mắng chửi rủa cây cổ thụ, lăng mạ cây này bằng những lời lẽ tiêu cực xấu xa. Họ làm như vậy hàng ngày, cho đến khoảng một tháng sau thì cái cây tự chết và ngã gục xuống đất. Chỉ cần liên tục lăng mạ và chửi rủa nó là được.

Cây cổ thụ đổ gục sau những lời chửi rủa của dân làng. (Ảnh: Wikimedia )

Câu chuyện dân gian cổ xưa này dù chưa được xác thực, nhưng cũng cho chúng ta nhiều điều để suy ngẫm. Cây cối có cảm xúc không? Thái độ tiêu cực như vậy có thể thực sự lấy đi sinh mệnh của một cái cây hay thậm chí một con vật hay không? Phải chăng thực vật và động vật cũng cảm thấy đau?

Các nghiên cứu khoa học về cảm xúc của thực vật

Vào sáng sớm ngày 2/2/1966, Grover Cleveland Backster Jr., một chuyên gia phát hiện nói dối đã thực hiện một khám phá chấn động. Ông quyết định thử nghiệm máy dò nói dối trên một cây thiết mộc lan trong văn phòng của mình.

Backster sau đó kết luận rằng thực vật có giác quan và chúng phản ứng trước sự đau đớn. Quả là khó tin! Mặc dù lý thuyết của ông không thuyết phục được phần lớn các nhà khoa học và bản thân Backster cũng không thể lặp lại các kết quả thí nghiệm của mình một cách khoa học, nhưng ông vẫn tiếp tục khẳng định rằng thực vật có sinh mệnh và có thể cảm thấy đau.

Backster kết luận rằng thực vật có giác quan và chúng phản ứng với nỗi đau. (Ảnh: wikipedia / CC0 1.0 )

Backster không phải là người nổi tiếng duy nhất nghiên cứu sâu về chủ đề này. Trước Backster, Sir Jagdish Chandra Bose, cha đẻ của Khoa học Ấn Độ hiện đại, từng tiến hành một thí nghiệm toàn diện để chứng minh rằng thực vật có thể phản ứng lại.

Công trình của ông cho thấy sự sinh trưởng và phát triển của thực vật có thể bị ảnh hưởng bởi âm nhạc, tiếng nói hoặc tiếng ồn lớn. Ô nhiễm không khí và môi trường ít ánh sáng có thể làm cây cối yếu đi; và về cơ bản, thực vật cảm giác được sự đau đớn.

Jagdish Chandra Bose, cha đẻ khoa học Ấn Độ hiện đại. (Ảnh: Wikipedia)

Ngày nay, một số nhà khoa học đã có những nghiên cứu mới bổ sung cho cuộc thảo luận mà Jagdish Chandra Bose và Grover Cleveland Backster Jr. khởi xướng. Các thí nghiệm chứng minh rằng thực vật có thể phản ứng bằng cách giải phóng một số hóa chất nếu chúng cảm thấy nguy hiểm và thực vật cũng có thể cảm nhận được vật cản ngay cả trước khi tiếp xúc.

Tương tự như tế bào thần kinh của con người phản ứng với cơn đau, thực vật cũng có các tín hiệu điện hoạt động để tạo ra các chất dẫn truyền thần kinh trong cơ thể của chúng.

Trải nghiệm nỗi đau ở động vật

Xác định cách động vật phản ứng với cơn đau đơn giản hơn nhiều so với ở thực vật vì nó rõ ràng hơn. Tuy nhiên, vấn đề phức tạp cần thảo luận là liệu chúng có cùng trải nghiệm giống với chúng ta khi đau không. Động vật trải qua các cung bậc cảm xúc trong khi phản ứng với nỗi đau hay chỉ giới hạn trong trải nghiệm vật lý mà thôi?

Con người có thể cảm thấy đau ngay cả khi không bị tổn thương về thể chất. Điều này liên quan đến nỗi sợ hãi hoặc ký ức về một nỗi đau từng xảy ra trước đây, hoặc từng chứng kiến nỗi đau của ​​người khác. Nghiên cứu cho thấy động vật cũng có phản ứng với nỗi đau tương tự như con người.

Các thí nghiệm chứng minh rằng các con vật bị đau đã chọn ăn thức ăn có thuốc giảm đau, vì chúng cảm nhận được cơn đau thuyên giảm sau khi ăn loại thức ăn đó. Chúng cũng có những thay đổi về hành vi nếu nhận ra một số hành động, địa điểm hoặc thậm chí người đã gây ra nỗi đau về thể chất cho chúng.

Động vật cũng phải đối mặt với lo lắng, đặc biệt là khi chúng bị đưa ra khỏi vùng an toàn hoặc xa những người mà chúng cảm thấy an tâm. Mỗi con vật phản ứng khác nhau với người lạ và địa điểm mới dựa trên các trải nghiệm cuộc sống và nỗi đau của chúng.

Động vật sẽ cảm thấy lo lắng, đặc biệt khi chúng bị đưa ra khỏi vùng thoải mái hoặc tránh xa những người mà chúng cảm thấy thoải mái. (Ảnh: pixabay / CC0 1.0 )

Thông điệp

Các cuộc thảo luận xoay quanh chủ đề này đều dẫn đến một thực tế rằng thực vật và động vật có nhiều điểm chung với con người hơn những gì chúng ta vẫn nghĩ. Thừa nhận những điểm tương đồng này sẽ giúp chúng ta hiểu về sinh học như một khái niệm của sự thống nhất.

Theo Visiontimes
Nhật Quang biên dịch

 

 

Vì sao Newton tin vào Thần khi nghiên cứu thiên văn?

Đã bao giờ bạn tự hỏi vũ trụ này to lớn ra sao, vận hành thế nào, con người bé nhỏ từ đâu sinh ra. Vì sao nhiều nhà khoa học càng nghiên cứu sâu về thiên văn thì càng tin vào sự hiện hữu của Đấng Sáng Tạo? Mời bạn bình tâm đọc bài viết sau và suy nghĩ nhé.

Tốc độ viên đạn của súng trường bình thường là khoảng 1km/s, nên khi viên đạn bay qua mắt, bạn không thể nhìn thấy nó. Nếu so sánh Trái Đất như một viên đạn, vậy khi Trái Đất bay qua trước mặt, mắt bạn có nhìn thấy nó không?

Sự hình thành của vũ trụ, sự vận động và trật tự vô cùng chuẩn xác của nó là do nguyên nhân nào? (Ảnh: pinterest.com)

Các nhà khoa học ước tính trái đất quay với tốc độ 465m/s, tương đương với 1700 km/h, gấp đôi tốc độ của một máy bay phản lực thông thường. Nó quay một vòng trong 23 giờ, 56 phút, 4:09 giây. Đó là thời gian chính xác của một ngày. Mỗi ngày đều như thế, nghìn năm vạn năm nay không hề thay đổi.

Trái Đất cùng với Mặt Trăng quay xung quanh Mặt Trời với tốc độ 30.000 m/s. Tốc độ của nó gấp 30 lần tốc độ viên đạn. Nó quay một vòng quanh Mặt Trời mất khoảng 365 ngày, 5 giờ, 48 phút và 45 giây. Đây là thời gian chính xác của một năm, nghìn năm vạn năm nãy cũng không hề thay đổi.

Mặt Trời cùng với Trái Đất quay quanh trung tâm Dải Ngân hà mà chúng ta đang ở với tốc độ 250 km/s, và phải mất 200 triệu năm để quay hết 1 vòng.

Tại Dải Ngân hà mà chúng ta đang ở, có khoảng 100 tỷ ngôi sao, và có đường kính tổng cộng 100.000 năm ánh sáng. Nó có vô số các hành tinh giống Trái Đất. Tuy vậy Dải Ngân hà cũng chỉ là một không gian bé tẹo trong vũ trụ bao la. Nếu Dải Ngân hà có đường kính dài khoảng 200 năm ánh sáng, thì vũ trụ trên tổng thể mà các nhà khoa học hiện nay nhận thức được phải trải dài gần 14 tỷ năm ánh sáng. Từ đó đủ thấy vũ trụ này to lớn và vĩ đại như thế nào.

Nếu một thành phố không có các hạn chế về luật lệ giao thông, mỗi chiếc xe cứ băng băng chạy với tốc độ 60km/h (chỉ khoảng 16m/s), vậy thì tình hình giao thông sẽ biến thành như thế nào? Chẳng phải sẽ có đầy rẫy các tai nạn hỗn loạn trên đường phố hay sao?

Nếu so sánh vũ trụ với một thành phố, thì kể ra vũ trụ này của chúng ta quá khổng lồ và hoành tráng. Hãy thử nghĩ xem, mỗi một hành tinh (tương tự một chiếc xe) đều bay với tốc độ rất nhanh, nhưng chúng lại có thể di chuyển một cách rất trật tự và chuẩn xác như vậy, mà không hề va chạm vào nhau. Điều này có thể nào là hiện tượng thuần túy ngẫu nhiên chăng?

(Ảnh: pinterest.com)

Đồng hồ Thụy Sĩ vẫn thường được nhìn nhận là tốt nhất và có tốc độ chính xác nhất trên thế giới.

Đồng hồ có tourbillon (1 bộ phận của đồng hồ với cơ chế luôn tự động quay) có thể giảm thiểu tác động của trọng lực lên độ chính xác của đồng hồ, nhưng những chiếc đồng hồ như vậy cũng có lỗi khoảng 5 giây một tuần. Đồng hồ thạch anh chính xác nhất thế giới thì vẫn sẽ bị lỗi sai số 1 giây trong 300 năm.

Hãy tưởng tượng nếu hành tinh của chúng ta mỗi ngày chạy chậm hơn 1 giây, vậy sau hàng trăm năm, hàng chục nghìn năm, hàng trăm triệu năm, thì hậu quả sẽ như thế nào?

Sự chính xác của vũ trụ khổng lồ vượt xa chiếc đồng hồ chính xác nhất trên thế giới. (Ảnh: guoliangjob.com)

Cho nên khi chúng ta càng hiểu biết nhiều hơn về thiên văn, chúng ta lại càng thán phục hơn trước sự toàn năng vĩ đại của Đấng Sáng Tạo. Đây là lý do tại sao nhiều nhà thiên văn học vĩ đại đều có niềm tin kiên định vào Thần, như Galileo, Copernicus, Bruno, Newton, Hubble và Halley.

Họ tin rằng tất cả những điều này đều là thiết kế của một Nguồn Trí tuệ Siêu phàm nào đó đằng sau.

Chân dung một số nhà khoa học nổi tiếng tin vào sự tồn tại của Thần. (Ảnh: slideshare.net)

Newton đã tạo ra một mô hình của Hệ Mặt Trời. Tại trung tâm mô hình là một mặt trời mạ vàng. Các hành tinh xung quanh được sắp xếp chỉnh tề ở từng vị trí khác nhau. Khi quay một cái, các ngôi sao sẽ ngay lập tức chuyển động với quỹ đạo rất hài hòa, rất sống động và đẹp mắt. Một ngày nọ, nhà thiên văn học Halley đến thăm. Khi nhìn thấy mô hình này, ông đã xem xét nó một hồi lâu, rồi kêu lên phấn khích, hỏi Newton rằng ai đã làm ra nó.

Isaac Newton là một nhà vật lý, nhà thiên văn học, nhà triết học, nhà toán học, nhà thần học và nhà giả kim thuật người Anh. (Ảnh: Wikipedia)
Mô hình con lắc Hệ Mặt Trời của Newton. (Ảnh: Tiki.vn)

Với giọng nói nghiêm nghị, Newton bảo người bạn Halley rằng không có ai thiết kế và chế tạo ra mô hình này cả, mà nó được hình thành bởi sự kết hợp một cách ngẫu nhiên các loại vật liệu khác nhau.

Nghe vậy, Halley phản bác, rằng một mô hình tinh tế như vậy chắc chắn phải được tạo ra bởi người thợ có tay nghề rất cao!

Lúc này, Newton vỗ vai Halley, nói: “Mô hình này thật sự tinh xảo đấy, nhưng so với Hệ Mặt Trời thì nó không là gì cả. Anh vẫn tin rằng có ai đó đã tạo ra nó đúng không. Hệ Mặt Trời còn tinh xảo hơn thứ này cả triệu lần. Vậy chẳng phải có một vị Thần toàn năng nào đó đã sáng tạo ra nó bằng một trí huệ siêu phàm hay sao?”

Nhà vật lý học nổi tiếng từng đoạt giải Nobel Richard Feynman từng nói: “Rất nhiều nhà khoa học vừa tin khoa học vừa tin vào Thượng Đế”, hai điều tưởng như trái ngược nhau này lại có thể thống nhất một cách hoàn mỹ. Newton chính là ví dụ điển hình cho câu nói này. Khi tìm hiểu về tín ngưỡng, ông nghĩ tới khoa học. Khi nghiên cứu khoa học, ông lại nghĩ về tín ngưỡng, và cho rằng mọi thứ xảy ra trong vũ trụ không phải đều ngẫu nhiên.

Nhà vật lý Richard Feynman. (Ảnh: rolemodelchangemakers.com)

Newton nói: “Khi tôi quan sát Hệ Mặt Trời, nhìn thấy khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trời thật khéo léo cho Trái Đất có được ánh sáng và nhiệt độ thích hợp, đây tuyệt đối không phải là hiện tượng ngẫu nhiên!”.

Newton nói: “Người bao quát hết thảy, đại trí đại huệ. Người hiện hữu trong đại thiên thế giới sắp xếp có trật tự, bao la vô tận, tất cả đều theo ý chỉ của Ngài … Khi dùng kính viễn vọng tìm đến nơi tận cùng, tôi đã nhìn thấy dấu vết của Thần”. Ông cũng từng khẳng định khi đang nghiên cứu về chuyển động của các hành tinh, ông đã nhìn thấy “bàn tay của Chúa”.

Vũ trụ thật bao la và tráng lệ, như một kiệt tác của Đấng Tạo Hóa.

Tác giả: Lượng Vũ, secretchina.com
Yên Tử biên dịch

 

 

 

 

Đọc nhiều

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài

Sự thật NGƯỜI TÍNH không bằng TRỜI TÍNH số phận đã an bài. Trong kiếp nhân sinh này, mỗi người đều có sự lựa...

Có gì ở bệnh viện đa khoa quốc tế hơn 20.000 m2 mới khai...

Vừa qua, tại Hà Nội có thêm một bệnh viện đa khoa quốc tế hiện đại đi vào hoạt động. Chỉ sau một thời...

Cập nhật dịch COVID-19 sáng 2/3: Số người tử vong trên thế giới tăng...

Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc (NHC) hôm nay (2/3) thông báo có thêm 42 ca tử vong vì COVID-19 trong ngày...

Mặc tin đồn hẹn hò ‘bủa vây’, Bích Phương diện đồ gợi cảm dự...

Bích Phương vô cùng quyến rũ trong tiệc sinh nhật của "soái ca" Đăng Khoa. Lẻ bóng “lâu năm”, dường như các fan hâm mộ...